[Day 11] Mật mã của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ (phần 1)

Mình dịch bài phát biểu của giáo sư Neal Koblizt, đại học  Washington, Mỹ tại hội đàm Mật Mã học Châu á vừa diễn ra ngày 7/12/2016 tại Hà Nội. Mình sẽ tóm tắt dưới dạng article bài phát biểu của giáo sư (dài khoảng 1 tiếng), chuyển thành tiếng Việt và thêm vào note của mình dưới dạng chữ nghiêng.

*Thuật ngữ thường sử dụng:

NSA : National Security Agency: Cơ quan An Ninh Quốc Gia Mỹ

NFL : National Liberation Force : Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam

I. KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Mật mã Việt Nam những năm đầu  còn đang ở trong giai đoạn rất sơ khai – chủ yếu dùng phiên bản yếu của phương thức mã hóa Vigenere với độ dài chìa khóa là 5.

vigenere

Vigenere ( 1523 – 1596) người được coi là sáng tạo ra phương pháp Vigenere

Người Việt đã cố gắng để tăng cường kiến thức, họ nghiên cứu quyển sách “Element de cryptographie” viết bởi  Roger Baudouin năm 1939. Năm 1948, Việt Minh xuất bản sách hướng dẫn mật mã học mang tên ” Mật mã đại cương” bao gồm những kiến thức căn bản về mật mã.

Tuy nhiên, Pháp cũng không quá mạnh về mật mã những năm này, phần lớn họ cũng dùng phương thức Vigenere. Tại sao Pháp lại dùng 1 phương pháp mà người Pháp đã sáng tạo ra cách đây 400 năm? Những lý do hợp lý:

+ Việt Nam quá xa Pháp. (Note: Tại thời điểm đó khoảng cách là cả 1 vấn đề, điều này dẫn đến việc quân Pháp tại Việt Nam gần như hoạt động độc lập so với chính quốc. Bảo mật thông tin không là vấn đề thực sự quan trọng lúc bấy giờ. )

+ Nhân lực của Pháp ở Việt Nam không phải là những người giỏi nhất.

+ Người sử dụng ngại sử dụng mật mã.

+ Mật mã càng tốt thì càng chậm.

(Note: Sử dụng mật mã là sự đánh đổi giữa bảo mật và sự thuận tiện. Thâm chí trong thế giới hiện đại nhiều người vẫn chọn sự thuận tiện hơn. Việc người dùng ngại mật mã là 1 câu chuyện muôn thuở, tuy nhiên hậu quả của nó thì khôn cùng hơn nhiều trong thời chiến)

Như vậy, trong những năm đầu, trình độ mã hóa của Việt Minh và Pháp tương đương nhau, đã có nhiều bí mật được phát hiện và đọc bởi cả 2 bên. Trong giai đoạn sau, ít nhất những bí mật cấp cao đã được mã hóa kỹ càng hơn.

Theo Christipher Goscha,chuyên gia hàng đầu về chiến tranh Pháp – Việt , Việt Minh là lực lượng chiến tranh du kích duy nhất trong thế kỷ 20 có trình độ thông tin và tình báo cấp cao ( bao gồm cả mã hóa) có thể tương đương và lắm lúc nhỉnh hơn cả lực lượng xâm chiếm thuộc địa.

Trong một góc nhìn khác, thậm chí trong những năm sau, sự hiểu biết về mật mã của  Việt Minh thường không được chuyển xuống lực lượng chiến đấu 1 cách hiệu quả.

1 ví dụ thú vị đang được trưng bày ở Bảo tàng Cảnh sát Hà Nội miêu tả cảnh 1 chiến binh Việt Minh trong ngày 27/9/1950 làm nổ tung tàu Amyot d’Inville của Pháp, ngăn chặn 1 cuộc tấn công quan trọng vào vùng Thanh Hóa – Nghệ An- Hà Tĩnh, những vùng đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Quân Việt Minh đã sử dụng hệ mật mã Vigerene để chuyển thông điệp kế hoạch tấn công trước khi quân Pháp kịp chuẩn bị. Điều thú vị là trong thông điệp được gửi đi có kèm cả chìa khóa giải mã, một điều cấm kỵ trong bảo mật thông tin. Nhưng nếu như Việt Minh xài mật mã yếu như vậy thì tại sao quân Pháp lại không có khả năng phát hiện ra kế hoạch tấn công này?  Có 2 lý do có thê xảy ra:

+ Quân Pháp chưa bao giờ lấy được bất cứ thông tin nào về kế hoạch tấn công.

+ Quân Pháp lấy được tài liệu, nhưng lại quá khinh thường Việt Minh nên không giải mã thông điệp này mặc dù đã có được chìa khóa.

Chúng ta có thể thấy được là cả lực lượng chiến đấu trên chiến trường của cả 2 bên đều không có sự chú ý cần thiết về tầm quan trọng của mật mã, bị tách biệt với kiến thức về mật mã  đang được nghiên cứu ở trung tâm.

Năm 1990, chính phủ Việt Nam xuất bản 1 quyển sách lịch sử mã hóa ở Việt Nam, được NSA dịch với tiêu đề “Essiential Matters”. Trong đó có nhiều thông tin thú vị:

essential-matters-history-of-the-cryptographic-branch-of-the-people-s-army-of-vietnam-1945-1975_13641908

  • Đội mật mã học thuộc Quân Đội Nhân Dân Việt Nam được thành lập vào ngày 12/9/1945, chỉ 10 ngày sau ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc Lập, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của chính quyền Việt Nam vào mật mã học.
  • Trong những năm cuối thập kỷ 1950, Việt Nam gửi đội chuyên gia của mình sang tập huấn tại Trung Quốc, và điều này làm tăng khả năng của Việt Nam lên rất nhiều.
  •  Kinh nghiệm của Trung Quốc là 1 mẫu hình tốt cho Việt Nam, bởi vì Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa chiến thắng các đế quốc phương Tây trong 1 cuộc chiến tranh du kích vĩ đại. Nhưng do hệ chữ cái của Trung Quốc khác với hệ chữ cái Latin, nên vấn đề mã hóa giữa 2 quốc gia cũng có sự khác việt. Trung quốc phải chuyển đổi tiếng của mình sang hệ Latin, xong mới mã hóa thông điệp, trong khi Việt Nam, xài bảng chữ cái Latin có chỉnh sửa, chỉ phải sử dụng phương thức mã hóa thông thường có chỉnh sửa.

Trong 1 bản báo cáo của NSA năm 2007, có đoạn :

“Tiếng Việt không thể chuyển đổi sang mã Morse được bởi vì những âm tiết kỳ lạ và hệ thống dấu của nó. Những chuyên gia ngôn ngữ mật mã của NSA phải hiểu được hệ thống được tạo ra bởi người Việt để chuyển tải những tính chất này sang mã Morse trước khi bắt tay vào việc dịch. ”

VD : ơ = ow , ư = uw , ươ = wow ( chú ý rằng âm w không có trong tiếng Việt)

Cũng trong báo cáo “Năm 1961… những chuyên gia phân tích tại NSA biết được đối thủ của mình rất giỏi trong việc mã hóa và họ có 1 sự tôn trọng nhất định cho ngành mật mã học của miền Bắc Việt Nam”.

+Trong thập niên 1950s, viện trợ nước ngoài về bảo mật thông tin phần  lớn là từ Trung Quốc. (Note: cuộc cải cách ruộng đất, phần nhiều là ảnh hưởng từ phía nước bạn cũng xảy ra ở những năm này. Điều này khá hợp lý khi Việt Nam nhận cả viện trợ và sự ảnh hưởng từ người láng giềng phương Bắc. Không có bữa ăn nào là miễn phí. ) Cuối thập niên 1950, Liên Xô bắt đầu thay thế Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp thông tin về mật mã , nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ Việt Nam trong các mảng khác, đặc biệt là trong phòng không.

+ Thông tin tình báo Mỹ cho biết trong khoảng từ năm 1965-1973, ước tính khoảng 5000 cốvấn (adviser) Trung Quốc bị giết hoặc bị thương trước những cuộc công kích của Không Quân Mỹ ( Note: Điều này khá đáng ngạc nhiên, nhưng cũng không quá bất ngờ. Điều này chứng tỏ chiến thắng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ của Trung Quốc, và 2 nước đã từng là những đồng minh rất thân cận. Con số thực có thể là 3000-4000, do dù nước Mỹ là 1 nước có thông tin đáng tin cậy, con người thường có xu hướng thổi phồng thành tích của mình. Dù Mỹ có thổi phồng con số đi nữa, những hy sinh của Trung Quốc cho Việt Nam cũng là rất lớn) . Đây là 1 thời điểm khó khăn cho Việt Nam, khi tướng Không Quân Mỹ Curtis Lemayn nổi tiếng với câu nói “đánh bom để đưa bọn chúng trở về thời đồ đá”

800px-curtis_lemay_28usaf29

Tướng 4 sao Curtis Lemay -chỉ huy Không Quân Mỹ

+ Đáp trả lại những yêu cầu từ Hà Nội, trong 2 năm từ 1959 -1961, Ủy ban An ninh Quốc gia Nga(KGB) đã viện trợ tiền, thiết bị, và tập huấn về kỹ năng thông tin bằng radio và cách thức giao tiếp bảo mật cho phía Việt Nam trong một dự án có tên là “Phương Đông”

+ Dựa trên báo cáo của Merler Pribblenow, khi bắt đầu xuất hiện những căng thẳng và nghi ngờ trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu phát triển những ý tưởng và tài liệu mật mã của riêng mình. Họ không còn phụ thuộc vào Liên Xô hay Trung Quốc nữa. Điều này hóa ra lại mang đến vấn đề lớn cho NSA. Do NSA đã nghiên cứu  hệ thống mật mã của Trung Quốc và Liên Xô trong nhiều năm, họ có nhiều kinh nghiệm đối phó với hệ thống mã hóa của 2 nước này. Khi Việt Nam phát triển hệ thống riêng của mình, NSA gặp phải rất nhiều khó khăn. Một điểm cần chú ý nữa là Việt Nam thường xuyên thay đổi kỹ thuật của mình, khiến việc giải mã rắc rối gấp bội.

II.KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1961 – 1975) 

Trong lịch sử của ngành mật mã học, người ta thường chia ra làm 2 hướng: tấn công hoặc phòng thủ. Có 2 câu hỏi cơ bản cần phải trả lời:

+ Việt Nam có khả năng chặn và đọc tín hiệu của Mỹ không?

+ Việt Nam có thể truyền được tin 1 cách bảo mật không?

Đối với câu hỏi đầu tiên, nhiều khả năng câu trả lời là  “Không”, bởi vì 2 lý do chính:

1)

NSA đánh giá cao khả năng giải mã của Bắc Việt Nam và Mặt Trận Dân Tộc giải phóng Miền Nam (National Liberation Front: NLF) . Đó lý do NSA khuyên quân đội Mỹ nên sử dụng những phương thức truyền tin có độ bảo mật cao.

Một nguồn tin nữa khẳng định điều này là Brian Snow, người bắt đầu làm việc ở NSA từ 1972, và trở thành giám đốc kỹ thuật về mảng phòng thủ ( communication security, COMSEC) . Ông nói rằng NSA luôn nghĩ tới tình huống xấu nhất. Họ luôn cố gắng để cho quân đội Mỹ sử dụng những phương thức bảo mật tiên tiến nhất cho những thông tin chiến lược ở Việt Nam. Do đó, khả năng Việt Nam có thể phá được lớp bảo mật thông tin của Mỹ là ít, vì kỹ thuật đòi hỏi cho việc này là rất cao.

2)

Phần lớn những liên lạc trên chiến trường của Mỹ thường không được mã hóa và thường chứa những tiếng lóng, biệt ngữ, mà chỉ người trong cuộc mới hiểu. Đây là bởi vì thiết bị mã hóa giọng nói NESTOR ( phát triển bởi NSA và được đưa vào sử dụng tại Việt Nam vào năm 1965) hoạt động tệ tại điều kiện chiến trường Việt Nam. Chiếc máy được thiết kế khá tốt, nhưng thời tiết nóng ẩm ở Việt Nam thì khác hoàn toàn so với Mỹ.

330px-ky38manpack

Hình máy KY38 – 1 phần của hệ thống NESTOR.

800px-ky-8_nestor_wideband_tactical_secure_voice_equipment2c_vehicular_or_fixed_plant_-_national_cryptologic_museum_-_dsc08003

KY-8 , bộ giải mã NESTOR đặt ở căn cứ. 

Mặc dù nhiều người trong quân đội Mỹ nghĩ rằng người Việt sẽ không bao giờ hiểu được những trao đổi chứa nhiều biệt ngữ của Mỹ , trên thực tế, NLF thường xuyên có thể phát hiện và tận dụng những sơ hở trong thông tin chiến thuật bởi quân đội mỹ (Note : chiến thuật(tactic) # chiến lược(strategy) ,  khi vào chiến trường thì xài chiến thuật, khi ở trên tổng thể thì phải xài chiến lược)

Trong quyển sách xuất bản năm 1982 bởi tướng 3 sao Charles Myer, ông kể về 1 cuộc đột kích vào một trụ sở của NLF vào 20/12/1969 dẫn đến việc bắt giữ 12 lính du kích và 1 số lượng lớn tài liệu và thiết bị liên lạc.

Bằng cách tra khảo tù binh và kiểm tra thiết bị, Mỹ biết được rằng Việt Nam đã có những thiết bị giải mã hiện đại và những chuyên gia ngôn ngữ, những người nghiên cứu cách nói chuyện của lính Mỹ, những biệt ngữ, tiếng lóng …. Họ có thể ” điều khiển và tận dụng hầu hết những giao tiếp không bảo mật”. Tài liệu thu thập được chứa ” nhiều hướng dẫn về những phương thức đánh chặn thông tin và những bản đánh giá chi tiết về phương thức giao tiếp lẫn những lỗ hổng bảo mật có thể tận dụng của Mỹ và đồng minh”.

Khi tướng Creighton Abram, tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, được báo cáo về điều này, ông nói ” Điều này thực sự quá kinh ngạc, về sự chi tiết,sự chính xác tuyệt đối, và sự chuyên nghiệp của nó” . Sau đó, ông ra lệnh quân đội Mỹ bắt buộc phải tăng cường khả năng bảo mật thông tin của họ.

220px-gen_creighton_w_abrams

Tướng 4 sao Creigton Abram – tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam

Dù vậy, quân Mỹ trên chiến trường tỏ ra khá miễn cưỡng trong việc sử dụng những biện pháp bảo mật mạnh cho việc trao đổi thông tin chiến thuật. Myers kết luận ” Tất cả những người dùng thiết bị liên lạc đều có khả năng nhận thức được ít hay nhiều sự dễ bị tổn thương của họ đối với việc đánh chặn, phân tích, giải mã của kẻ thù và sự cần thiết của việc mã hóa và xác thực . Thế nhưng, khoảng cách giữa việc biết và việc ứng dụng là quá lớn, và ở Việt Nam, nhiều lúc khoảng cách này là không thể vượt qua. ”

Myer kể về “nhiều tình huống được ghi lại” về việc NLF gửi những bức điện giả . “Trong 1 trường hợp, kẻ thù xâm nhập được trong mạng điện thoại nội bộ của 1 cứ điểm phòng thủ và chuyển hướng lực lượng dự trữ ra khỏi vùng mà NLF sắp tấn công”.

Ông còn kể về 1 trường hợp khi 1 điện tín viên Mỹ bỏ chiếc khăn che thiết bị KY-8 NESTOR để cho thông gió và giảm nhiệt ( chiếc máy thường khá nóng, và dễ bị hỏng vì điều này) . “Điều này làm tăng khả năng hoạt động của KY-8 nhưng nó lại vị phạm nguyên tắc bảo mật vì nó đã làm lộ thiết bị và cho đối phương khả năng đánh chặn những thông tin tình báo”. (Note: điều này khá thú vị. Một trong những nguyên tắc bảo mật trong việc mã hóa là phải không cho đối phương biết cái nào là cái chìa khóa. Việc bỏ lớp che phủ khỏi KY-8 làm giảm khả năng bảo mật của hệ thống, do chính phủ miền Nam Việt Nam khi đó thường có rất nhiều điệp viên từ miền Bắc.) 

Nhưng ngược lại, NLF nhiều khả năng không thể phá vỡ được hệ thống bảo mật cao của những thông tin chiến lược của Mỹ. Một lý do nữa để tin rằng việc phá mã những thông tin chiến lược của Mỹ không được thực hiện bởi vì Việt Nam có một lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ, mà người nổi tiếng nhất trong số đó là Phạm Xuân Ẩn.

*Còn tiếp*

Advertisements

One thought on “[Day 11] Mật mã của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ (phần 1)

  1. Pingback: [Day 12] Mật mã trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ(phần 2) | Phuc Le

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s