[Day 12] Mật mã trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ(phần 2)

Link phần 1. 

*Tiếp nối kỳ trước khi đang đề cập tới lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ của Việt Nam, trong đó có 2 gương mặt nổi bật, đó chính là Phạm Xuân Ẩn và Nguyễn Đình Ngọc.

7xh1jz3

Phạm Xuân Ẩn (1927 -2006)  – Điệp viên huyền thoại – thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam

Phạm Xuân Ẩn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam vào năm 1953, dưới sự chủ tọa của Lê Đức Thọ (lúc này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam) và được ra lệnh rút khỏi bất cứ hoạt động nào có thể làm tiết lộ cảm tình với cách mạng. Ẩn sau đó được gửi tới Mỹ trong năm 1957 để học chuyên ngành báo chí. Sau đó, ông được gửi tới Sài Gòn với tư cách là một nhân vật nhân vật trọng yếu cho truyền thông Mỹ, đặc biệt là trong những năm quan trọng nhất của chiến tranh, khi ông làm việc cho tờ Time. Ông được tin tưởng bởi những nhân vật vật cấp cao của CIA cũng như những nhân vật ảnh hưởng lớn tại chính quyền Nam Việt Nam ( South Vietnam regime : RVN)

(Note: Về Phạm Xuân Ẩn, để biết thêm được nhiều về cuộc đời của điệp viên huyền thoại này, mình nghĩ cuốn sách Phạm Xuân Ẩn -Điệp viên hoàn hảo sẽ là 1 bắt đầu rất tốt. Mặc dù Phạm Xuân Ẩn có nói với Larry Berman, người phỏng vấn ông và cũng là người viết quyển sách, rằng sẽ có những bí mật mà đến khi chết ông vẫn không thể nói được, rằng ông phải là người đưa nó xuống mồ, nhưng trong quyển sách bạn sẽ tìm thấy sự tài hoa của Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời không thể tin được của ông. Ông sống một cuộc đời mà ông không thể kể với ai, và ông phải ngủ với ý thức rằng mình có thể bị phát giác bất cứ lúc nào.Phạm Xuân Ẩn là một người Việt Nam yêu Mỹ, và yêu Việt Nam. ) 

Phạm Xuân Ẩn làm việc cho Mặt Trận giải phóng Dân Tộc Miền Nam (NLF) và tình báo Bắc Việt Nam trong 15 năm (1960 – 1975), nghĩa là trong toàn bộ cuộc chiếb. Trong khoảng thời gian đó, ông nhận được tổng cộng 16 huy chương, tất cả đều được trao trong bí mật.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và Bác Hồ , khi nhận được báo cáo của Ẩn, đã nói “Bây giờ chúng ta đang đứng trong phòng chiến tranh của Mỹ “ (Note: phòng những tướng Mỹ bàn về chiến lược chiến tranh” ) . Phạm Xuân Ẩn được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15 tháng 1 năm 1976. Ông cũng được phong hàm thiếu tướng – hàm cao nhất từng được trao cho một điệp viên. Khi ông mất vào năm 2006, ông được truy điệu bởi nghi thức tang lễ của một anh hùng chiến tranh.

2 quyển sách nổi tiếng về ông:

diep-vien-hoan-hao-x6-a_1_3the-spy-who-loved-us-483

Điệp viên hoàn hảo                                                           The spy who loves us

Một nhà toán học hoạt động ngầm ở Sài Gòn và cũng được phong hàm thiếu tướng đó chính là Nguyễn Đình Ngọc (1932 -2006).

(Note: viết xong mình mới để ý là cả bác Ngọc và bác Ẩn đều mất năm 2006.)

a-a-ngoc-1

Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc – Thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông gia nhập lực lượng tình báo năm 1953, vào Sài Gòn và lấy học bổng sang Pháp năm 1955. Năm 1966, ông trờ về quê hương với 3 bằng kỹ sư và 2 bằng Tiến sĩ khoa học . Trong thập niên 1980s, ông đã giúp tổ chức nhiều buổi hội thảo về đại số,topology (Note : mình chưa tìm được cách dịch từ này) và nhiều lĩnh vực khác tại Hà Nội.

Trong chiến tranh Việt – Mỹ, Gs. Nguyễn Đình Ngọc, người thông thạo tiếng Anh và Pháp, là cầu nối cho nhiều cộng đồng nước ngoài tại Sài Gòn và thu thập được nhiều thông tin tình báo có giá trị từ họ.

Ngọc là 1 người khá khép kín về hoạt động của mình, nên rất nhiều điều bí ẩn còn chưa được biết tới về ông. Ngoài Ngọc và Ẩn, còn rất nhiều những điệp viên khác hoạt động trong chính quyền Nam Sài Gòn. Như vậy, lý do thứ hai để nghi ngờ việc Việt Nam phá vỡ được bảo mật về thông tin chiến lược của Mỹ rất đơn giản : Nếu họ có những điệp viên như thế này, giải mã làm gì cho mất công??

Tuy nhiên đối với những điệp viên như Ngọc và Ẩn, Việt Nam đương nhiên không muốn liên lạc giữa họ và trụ sở bị bắt giữ và đọc. Trong khoảng thời gian 1960 – 1975, khi Phạm Xuân Ẩn gửi những thông tin bí mật từ những nguồn tin cấp cao của Mỹ và Nam Việt Nam, trong số 45 liên lạc viên hoạt động chuyển tin cho ông, 27 người đã bị bắt giữ, tra tấn, và giết. Tuy nhiên, Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát hiện. Như vậy có phải là Việt Nam đã sử dụng rất tốt việc mã hóa thông tin không?

Sự thật là không phải vậy.

Thông tin tình báo của Phạm Xuân Ẩn thường sẽ được chia thành 2 phần – phần trọng yếu ( thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ) bao gồm những thông tin khẩn cấp, nhạy cảm và những phần kém quan trọng, kém nhạy cảm hơn. Phần trọng yếu sẽ được gửi bởi những phương thức bảo mật cao bằng đường radio đến trung tâm đầu não của NFL tại Campuchia. Phần còn lại sẽ được 1 người lính chuyển bằng chân tới trụ sở của chính quyền Bắc Việt Nam tại Hà Nội. Trong phần tin chuyển bằng radio, phía Việt Nam sẽ sử dụng từ thay cho chữ cái, ví dụ như muốn chuyển từ “HAY” thì sẽ phải chuyển từ ” Hong Anh Yeu”, giống cách mà quân đội Mỹ sử dụng  “Alpha, Bravo, Charlie…” thay cho ABC.

Merle Pribbenow cho biết rằng phía Mỹ chưa bao giờ phá được mật mã cấp cao mà phía Việt Nam sử dụng cho những thông tin chiến lược của họ. Tuy nhiên, ông cũng cho biết rằng những thông tin chiến thuật thường không được mã hóa hoặc mã hóa yếu và nó rất dễ dàng cho NSA để phá.

(Note: Như vậy, gần như ta đã có bức tranh tổng thể về cuộc chiến Mỹ – Việt. Cả 2 bên, vì nhiều lý do, đều có khả năng phá được những thông tin chiến thuật của đối phương, nhưng lại bất lực trong việc xâm nhập vào thông tin chiến lược. )

Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao tình báo Mỹ lại không có khả năng xác định được nguồn của những đoạn báo cáo không được mã hóa nhiều của những liên lạc lạc viên bắt được? 

  1. Có phải họ không biết là NLF gửi thông tin bằng mực vô hình không?

Không- CIA, và thậm chí cả Pháp đều biết rất rõ rằng hầu hết những thông tin tuyệt mật đều được viết bởi mực vô hình

2.Có phải những liên lạc viên đã kịp tiêu hủy thông tin trước khi bị bắt?

Có lẽ phần lớn là vậy. Nhưng luôn luôn ư?

3. Có nguồn tin nào từ những đoạn báo cáo tìm thấy được có yếu tố có thể truy ra Phạm Xuân Ẩn hoặc ít nhất là thu nhỏ vùng tìm kiếm không?

Có lẽ trong toàn bộ các trường hợp, những đầu mối đều dẫn tới rất nhiều khả năng, bởi lúc đó trong quân đội Nam Việt Nam chứa đầy những điệp viên như Ẩn.

Hai yếu tố liên lạc viên kịp tiêu hủy, đầu mối quá nhiều cộng với việc quân Mỹ chưa bao giờ phá được điện tín radio của quân Việt Nam đã khiến cho Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát giác trong suốt 15 năm hoạt động tình báo của mình.

Merle Pribblenow, nghỉ hưu năm 1995, sau 27 năm làm cho CIA với với trò chuyên gia ngôn ngữ Việt Nam, đã nói “Bắc Việt gửi những chuyên gia mật mã và điện tín viên radio… trong những năm đầu 1960… để nâng cấp bảo mật thông tin liên lạc của họ ở trong Nam”.

“Người Việt sử dụng nhiều hệ thống khác nhau trong suốt thời gian chiến tranh, và nâng cấp hệ thống mã hóa của họ nhiều lần”.

“Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, họ ít nhất đã sử dụng hệ thống bảo mật 2 lớp, bao gồm việc có  đoạn mật mã thay thếtừ trong sách mật mã và rồi chuyển đổi thông điệp bằng tập giấy chỉ xài 1 lần.

Trong quyển sách mật mã, mỗi chữ trong tiếng Việt được chuyển thành 1 khối 5 chữ cái tiếng Latin, có lẽ được tạo ra một cách ngẫu nhiên.

VD : tấn = afhbv , công = wxess ,  tấn công = afhbv wxess

(Note : cách này thật sự sáng tạo và mang đậm chất ngôn ngữ Việt. Khác với tiếng Anh, từ trong tiếng Việt được tạo ra từ chữ. Bằng cách có 1 quyển sách chuyển đổi tất cả chữ trong tiếng Việt sang 1 bản g code, chúng ta có 1 cách chuyển ngữ đậm bản sắc Việt Nam. Đây là sáng tạo của người Việt. )

Quyển sách mật mã này được gửi tới nhiều người dùng. Mặc dù tính bảo mật của nó không cao, khi bị quân Mỹ phát hiện được, nó lập tức được thay thế bởi 1 phiên bản khác. Tuy nhiên, tập giấy chỉ xài 1 lần thì chỉ được chia sẻ bởi người gửi và người nhận. Nó rất nhỏ (để có thể nuốt được), đến nỗi mà Việt Nam phải nhờ Liên Xô in giúp, do bản thân mình không có đủ trình độ để in. Người sử dụng phải dùng kính lúp để xem tập giấy này.

Trong báo cáo của NSA, có 2 lĩnh vực quan trọng mà Mỹ có đợi lợi thế chiến thuật từ việc phân tích và giải mã thông tin từ phía Việt Nam”

  • Bắt đầu từ năm 1967, đã có những ước tính chính xác về số lượng và đích đến của quân đội giải phóng đang tiến về miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh; điều này làm Mỹ có sự chuẩn bị cho việc phòng thủ vào năm 1968, khi Việt Nam mở chiến dịch Tết Mậu Thân.
  • Trong chiến dịch không kích Bắc Việt Nam, Mỹ có thể cảnh báo máy bay thả bom của họ về tên lửa phòng không (SAM) và máy bay MiGs của Việt Nam. Điều này đã tới việc Mỹ chọc thủng tuyến phòng thủ của Việt Nam và thả bom trực tiếp tại Hà Nội.

Vấn đề của Việt Nam chính là việc mã hóa thông tỉn rất chậm với những công nghệ sơ khai mà Việt Nam có lúc đó. Thông tin chiến thuật không thể gửi đi một cách an toàn khi mà:

  • Một số lượng lớn thông tin phải được chuyển đi trong giai đoạn 67-68, liên quan tới nhiều người, phải di chuyển vào miên Nam để chuẩn bị cho tổng tiến công Tết Mậu Thân.
  • Thông tin phải được chuyển cực nhanh, trong trường hợp phòng không.

Mặc dù Việt Nam đã bắn rơi được khá nhiều máy bay Mỹ, họ có thể bắn rơi được nhiều hơn thế nữa nếu họ có thể mã hóa được toàn bộ lệnh đến phi công MiGs và những người điều khiển tên lửa phòng không. Tuy nhiên, điều đó là không thể.

Vậy nên, việc phá mã đã giúp Mỹ gây nên được những chấn thương nặng nề hơn cho Bắc Việt, cả trong chiến dịch Tết Mậu Thân( Việt Nam thành công nhưng tổn thất lớn) và trong chiến dịch không kích. Thế nhưng nó không giúp ích được nhiều trong việc lên kế hoạch chiến lược và tất nhiên không thể ảnh hưởng tới kết quả cuộc chiến.

Kết luận: 

Mặc dù có sự vượt trội về công nghệ từ phía Mỹ, bảo mật về thông tin của cả 2 bên gần như ngang bằng nhau:

  • Tốt cho thông tin chiến lược.
  • Tệ cho thông tin chiến thuật.

Tại sao mật mã lại có thể làm cho 2 bên ngang bằng nhau: Vì mật mã là thuần toán học, nó không cần đầu tư nhiều. Nó là cuộc đấu về trí tuệ, không phải là tiền.

Việt Nam có 1 truyền thống lâu đời về toán, với Gs.Lê Văn Thiêm, Gs.Hoàng Tụy và bây giờ là Gs.Ngô Bảo Châu.

gs20le20van20thiem2010b0eef52-0116-4de8-80b1-77d673728df4

Gs. Lê Văn Thiêm                                                                   Gs. Hoàng Tụy

INDIA-SCIENCE-MATHEMATICS-CONGRESS

Gs. Ngô Bảo Châu

Note: Như vậy mình đã dịch xong bài nói của Gs. Niel Koblizt. Điều thú vị nhất mà mình thấy từ bài nói của giáo sư chính là khi NSA gặp khó khi Việt Nam tự phát triển hệ thống mật mã của riêng mình dựa trên ngôn ngữ Việt. Có được tiếng Việt chính là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của chúng ta. Một mặt, chúng ta khó có thể áp dụng được những cách chuyển mã tiên tiến nhất của thế giới, do nó được sử dụng cho tiếng Anh. Mặt khác, khi chúng ta phát triển được một hệ thống đặc trưng cho tiếng Việt, nó sẽ khó bị phá hơn do tiếng Anh thì quá nhiều người xài, mọi người đều hiểu quả rõ về nó. Tiếng Việt thì không như vậy. 

Đây là lĩnh vực Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được với Mỹ, do nó đòi hỏi chất xám thuần khiết, như giáo sư Koblizt đã kết luận.

Cảm ơn các bạn đã đọc hết bài này của mình. Mình học được khá nhiều từ việc dịch bài này. Hy vọng các bạn cũng học được 1 thứ gì đó thú vị. Nếu các bạn phát hiện ra lỗi trong việc dịch thuật hoặc chính tả, vui lòng báo cho mình biết để sửa nhé.)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s