[Day 12] Mật mã trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ(phần 2)

Link phần 1. 

*Tiếp nối kỳ trước khi đang đề cập tới lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ của Việt Nam, trong đó có 2 gương mặt nổi bật, đó chính là Phạm Xuân Ẩn và Nguyễn Đình Ngọc.

7xh1jz3

Phạm Xuân Ẩn (1927 -2006)  – Điệp viên huyền thoại – thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam

Phạm Xuân Ẩn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam vào năm 1953, dưới sự chủ tọa của Lê Đức Thọ (lúc này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam) và được ra lệnh rút khỏi bất cứ hoạt động nào có thể làm tiết lộ cảm tình với cách mạng. Ẩn sau đó được gửi tới Mỹ trong năm 1957 để học chuyên ngành báo chí. Sau đó, ông được gửi tới Sài Gòn với tư cách là một nhân vật nhân vật trọng yếu cho truyền thông Mỹ, đặc biệt là trong những năm quan trọng nhất của chiến tranh, khi ông làm việc cho tờ Time. Ông được tin tưởng bởi những nhân vật vật cấp cao của CIA cũng như những nhân vật ảnh hưởng lớn tại chính quyền Nam Việt Nam ( South Vietnam regime : RVN)

(Note: Về Phạm Xuân Ẩn, để biết thêm được nhiều về cuộc đời của điệp viên huyền thoại này, mình nghĩ cuốn sách Phạm Xuân Ẩn -Điệp viên hoàn hảo sẽ là 1 bắt đầu rất tốt. Mặc dù Phạm Xuân Ẩn có nói với Larry Berman, người phỏng vấn ông và cũng là người viết quyển sách, rằng sẽ có những bí mật mà đến khi chết ông vẫn không thể nói được, rằng ông phải là người đưa nó xuống mồ, nhưng trong quyển sách bạn sẽ tìm thấy sự tài hoa của Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời không thể tin được của ông. Ông sống một cuộc đời mà ông không thể kể với ai, và ông phải ngủ với ý thức rằng mình có thể bị phát giác bất cứ lúc nào.Phạm Xuân Ẩn là một người Việt Nam yêu Mỹ, và yêu Việt Nam. ) 

Phạm Xuân Ẩn làm việc cho Mặt Trận giải phóng Dân Tộc Miền Nam (NLF) và tình báo Bắc Việt Nam trong 15 năm (1960 – 1975), nghĩa là trong toàn bộ cuộc chiếb. Trong khoảng thời gian đó, ông nhận được tổng cộng 16 huy chương, tất cả đều được trao trong bí mật.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và Bác Hồ , khi nhận được báo cáo của Ẩn, đã nói “Bây giờ chúng ta đang đứng trong phòng chiến tranh của Mỹ “ (Note: phòng những tướng Mỹ bàn về chiến lược chiến tranh” ) . Phạm Xuân Ẩn được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15 tháng 1 năm 1976. Ông cũng được phong hàm thiếu tướng – hàm cao nhất từng được trao cho một điệp viên. Khi ông mất vào năm 2006, ông được truy điệu bởi nghi thức tang lễ của một anh hùng chiến tranh.

2 quyển sách nổi tiếng về ông:

diep-vien-hoan-hao-x6-a_1_3the-spy-who-loved-us-483

Điệp viên hoàn hảo                                                           The spy who loves us

Một nhà toán học hoạt động ngầm ở Sài Gòn và cũng được phong hàm thiếu tướng đó chính là Nguyễn Đình Ngọc (1932 -2006).

(Note: viết xong mình mới để ý là cả bác Ngọc và bác Ẩn đều mất năm 2006.)

a-a-ngoc-1

Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc – Thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông gia nhập lực lượng tình báo năm 1953, vào Sài Gòn và lấy học bổng sang Pháp năm 1955. Năm 1966, ông trờ về quê hương với 3 bằng kỹ sư và 2 bằng Tiến sĩ khoa học . Trong thập niên 1980s, ông đã giúp tổ chức nhiều buổi hội thảo về đại số,topology (Note : mình chưa tìm được cách dịch từ này) và nhiều lĩnh vực khác tại Hà Nội.

Trong chiến tranh Việt – Mỹ, Gs. Nguyễn Đình Ngọc, người thông thạo tiếng Anh và Pháp, là cầu nối cho nhiều cộng đồng nước ngoài tại Sài Gòn và thu thập được nhiều thông tin tình báo có giá trị từ họ.

Ngọc là 1 người khá khép kín về hoạt động của mình, nên rất nhiều điều bí ẩn còn chưa được biết tới về ông. Ngoài Ngọc và Ẩn, còn rất nhiều những điệp viên khác hoạt động trong chính quyền Nam Sài Gòn. Như vậy, lý do thứ hai để nghi ngờ việc Việt Nam phá vỡ được bảo mật về thông tin chiến lược của Mỹ rất đơn giản : Nếu họ có những điệp viên như thế này, giải mã làm gì cho mất công??

Tuy nhiên đối với những điệp viên như Ngọc và Ẩn, Việt Nam đương nhiên không muốn liên lạc giữa họ và trụ sở bị bắt giữ và đọc. Trong khoảng thời gian 1960 – 1975, khi Phạm Xuân Ẩn gửi những thông tin bí mật từ những nguồn tin cấp cao của Mỹ và Nam Việt Nam, trong số 45 liên lạc viên hoạt động chuyển tin cho ông, 27 người đã bị bắt giữ, tra tấn, và giết. Tuy nhiên, Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát hiện. Như vậy có phải là Việt Nam đã sử dụng rất tốt việc mã hóa thông tin không?

Sự thật là không phải vậy.

Thông tin tình báo của Phạm Xuân Ẩn thường sẽ được chia thành 2 phần – phần trọng yếu ( thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ) bao gồm những thông tin khẩn cấp, nhạy cảm và những phần kém quan trọng, kém nhạy cảm hơn. Phần trọng yếu sẽ được gửi bởi những phương thức bảo mật cao bằng đường radio đến trung tâm đầu não của NFL tại Campuchia. Phần còn lại sẽ được 1 người lính chuyển bằng chân tới trụ sở của chính quyền Bắc Việt Nam tại Hà Nội. Trong phần tin chuyển bằng radio, phía Việt Nam sẽ sử dụng từ thay cho chữ cái, ví dụ như muốn chuyển từ “HAY” thì sẽ phải chuyển từ ” Hong Anh Yeu”, giống cách mà quân đội Mỹ sử dụng  “Alpha, Bravo, Charlie…” thay cho ABC.

Merle Pribbenow cho biết rằng phía Mỹ chưa bao giờ phá được mật mã cấp cao mà phía Việt Nam sử dụng cho những thông tin chiến lược của họ. Tuy nhiên, ông cũng cho biết rằng những thông tin chiến thuật thường không được mã hóa hoặc mã hóa yếu và nó rất dễ dàng cho NSA để phá.

(Note: Như vậy, gần như ta đã có bức tranh tổng thể về cuộc chiến Mỹ – Việt. Cả 2 bên, vì nhiều lý do, đều có khả năng phá được những thông tin chiến thuật của đối phương, nhưng lại bất lực trong việc xâm nhập vào thông tin chiến lược. )

Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao tình báo Mỹ lại không có khả năng xác định được nguồn của những đoạn báo cáo không được mã hóa nhiều của những liên lạc lạc viên bắt được? 

  1. Có phải họ không biết là NLF gửi thông tin bằng mực vô hình không?

Không- CIA, và thậm chí cả Pháp đều biết rất rõ rằng hầu hết những thông tin tuyệt mật đều được viết bởi mực vô hình

2.Có phải những liên lạc viên đã kịp tiêu hủy thông tin trước khi bị bắt?

Có lẽ phần lớn là vậy. Nhưng luôn luôn ư?

3. Có nguồn tin nào từ những đoạn báo cáo tìm thấy được có yếu tố có thể truy ra Phạm Xuân Ẩn hoặc ít nhất là thu nhỏ vùng tìm kiếm không?

Có lẽ trong toàn bộ các trường hợp, những đầu mối đều dẫn tới rất nhiều khả năng, bởi lúc đó trong quân đội Nam Việt Nam chứa đầy những điệp viên như Ẩn.

Hai yếu tố liên lạc viên kịp tiêu hủy, đầu mối quá nhiều cộng với việc quân Mỹ chưa bao giờ phá được điện tín radio của quân Việt Nam đã khiến cho Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát giác trong suốt 15 năm hoạt động tình báo của mình.

Merle Pribblenow, nghỉ hưu năm 1995, sau 27 năm làm cho CIA với với trò chuyên gia ngôn ngữ Việt Nam, đã nói “Bắc Việt gửi những chuyên gia mật mã và điện tín viên radio… trong những năm đầu 1960… để nâng cấp bảo mật thông tin liên lạc của họ ở trong Nam”.

“Người Việt sử dụng nhiều hệ thống khác nhau trong suốt thời gian chiến tranh, và nâng cấp hệ thống mã hóa của họ nhiều lần”.

“Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, họ ít nhất đã sử dụng hệ thống bảo mật 2 lớp, bao gồm việc có  đoạn mật mã thay thếtừ trong sách mật mã và rồi chuyển đổi thông điệp bằng tập giấy chỉ xài 1 lần.

Trong quyển sách mật mã, mỗi chữ trong tiếng Việt được chuyển thành 1 khối 5 chữ cái tiếng Latin, có lẽ được tạo ra một cách ngẫu nhiên.

VD : tấn = afhbv , công = wxess ,  tấn công = afhbv wxess

(Note : cách này thật sự sáng tạo và mang đậm chất ngôn ngữ Việt. Khác với tiếng Anh, từ trong tiếng Việt được tạo ra từ chữ. Bằng cách có 1 quyển sách chuyển đổi tất cả chữ trong tiếng Việt sang 1 bản g code, chúng ta có 1 cách chuyển ngữ đậm bản sắc Việt Nam. Đây là sáng tạo của người Việt. )

Quyển sách mật mã này được gửi tới nhiều người dùng. Mặc dù tính bảo mật của nó không cao, khi bị quân Mỹ phát hiện được, nó lập tức được thay thế bởi 1 phiên bản khác. Tuy nhiên, tập giấy chỉ xài 1 lần thì chỉ được chia sẻ bởi người gửi và người nhận. Nó rất nhỏ (để có thể nuốt được), đến nỗi mà Việt Nam phải nhờ Liên Xô in giúp, do bản thân mình không có đủ trình độ để in. Người sử dụng phải dùng kính lúp để xem tập giấy này.

Trong báo cáo của NSA, có 2 lĩnh vực quan trọng mà Mỹ có đợi lợi thế chiến thuật từ việc phân tích và giải mã thông tin từ phía Việt Nam”

  • Bắt đầu từ năm 1967, đã có những ước tính chính xác về số lượng và đích đến của quân đội giải phóng đang tiến về miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh; điều này làm Mỹ có sự chuẩn bị cho việc phòng thủ vào năm 1968, khi Việt Nam mở chiến dịch Tết Mậu Thân.
  • Trong chiến dịch không kích Bắc Việt Nam, Mỹ có thể cảnh báo máy bay thả bom của họ về tên lửa phòng không (SAM) và máy bay MiGs của Việt Nam. Điều này đã tới việc Mỹ chọc thủng tuyến phòng thủ của Việt Nam và thả bom trực tiếp tại Hà Nội.

Vấn đề của Việt Nam chính là việc mã hóa thông tỉn rất chậm với những công nghệ sơ khai mà Việt Nam có lúc đó. Thông tin chiến thuật không thể gửi đi một cách an toàn khi mà:

  • Một số lượng lớn thông tin phải được chuyển đi trong giai đoạn 67-68, liên quan tới nhiều người, phải di chuyển vào miên Nam để chuẩn bị cho tổng tiến công Tết Mậu Thân.
  • Thông tin phải được chuyển cực nhanh, trong trường hợp phòng không.

Mặc dù Việt Nam đã bắn rơi được khá nhiều máy bay Mỹ, họ có thể bắn rơi được nhiều hơn thế nữa nếu họ có thể mã hóa được toàn bộ lệnh đến phi công MiGs và những người điều khiển tên lửa phòng không. Tuy nhiên, điều đó là không thể.

Vậy nên, việc phá mã đã giúp Mỹ gây nên được những chấn thương nặng nề hơn cho Bắc Việt, cả trong chiến dịch Tết Mậu Thân( Việt Nam thành công nhưng tổn thất lớn) và trong chiến dịch không kích. Thế nhưng nó không giúp ích được nhiều trong việc lên kế hoạch chiến lược và tất nhiên không thể ảnh hưởng tới kết quả cuộc chiến.

Kết luận: 

Mặc dù có sự vượt trội về công nghệ từ phía Mỹ, bảo mật về thông tin của cả 2 bên gần như ngang bằng nhau:

  • Tốt cho thông tin chiến lược.
  • Tệ cho thông tin chiến thuật.

Tại sao mật mã lại có thể làm cho 2 bên ngang bằng nhau: Vì mật mã là thuần toán học, nó không cần đầu tư nhiều. Nó là cuộc đấu về trí tuệ, không phải là tiền.

Việt Nam có 1 truyền thống lâu đời về toán, với Gs.Lê Văn Thiêm, Gs.Hoàng Tụy và bây giờ là Gs.Ngô Bảo Châu.

gs20le20van20thiem2010b0eef52-0116-4de8-80b1-77d673728df4

Gs. Lê Văn Thiêm                                                                   Gs. Hoàng Tụy

INDIA-SCIENCE-MATHEMATICS-CONGRESS

Gs. Ngô Bảo Châu

Note: Như vậy mình đã dịch xong bài nói của Gs. Niel Koblizt. Điều thú vị nhất mà mình thấy từ bài nói của giáo sư chính là khi NSA gặp khó khi Việt Nam tự phát triển hệ thống mật mã của riêng mình dựa trên ngôn ngữ Việt. Có được tiếng Việt chính là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của chúng ta. Một mặt, chúng ta khó có thể áp dụng được những cách chuyển mã tiên tiến nhất của thế giới, do nó được sử dụng cho tiếng Anh. Mặt khác, khi chúng ta phát triển được một hệ thống đặc trưng cho tiếng Việt, nó sẽ khó bị phá hơn do tiếng Anh thì quá nhiều người xài, mọi người đều hiểu quả rõ về nó. Tiếng Việt thì không như vậy. 

Đây là lĩnh vực Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được với Mỹ, do nó đòi hỏi chất xám thuần khiết, như giáo sư Koblizt đã kết luận.

Cảm ơn các bạn đã đọc hết bài này của mình. Mình học được khá nhiều từ việc dịch bài này. Hy vọng các bạn cũng học được 1 thứ gì đó thú vị. Nếu các bạn phát hiện ra lỗi trong việc dịch thuật hoặc chính tả, vui lòng báo cho mình biết để sửa nhé.)

[Day 11] Mật mã của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ (phần 1)

Mình dịch bài phát biểu của giáo sư Neal Koblizt, đại học  Washington, Mỹ tại hội đàm Mật Mã học Châu á vừa diễn ra ngày 7/12/2016 tại Hà Nội. Mình sẽ tóm tắt dưới dạng article bài phát biểu của giáo sư (dài khoảng 1 tiếng), chuyển thành tiếng Việt và thêm vào note của mình dưới dạng chữ nghiêng.

*Thuật ngữ thường sử dụng:

NSA : National Security Agency: Cơ quan An Ninh Quốc Gia Mỹ

NFL : National Liberation Force : Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam

I. KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Mật mã Việt Nam những năm đầu  còn đang ở trong giai đoạn rất sơ khai – chủ yếu dùng phiên bản yếu của phương thức mã hóa Vigenere với độ dài chìa khóa là 5.

vigenere

Vigenere ( 1523 – 1596) người được coi là sáng tạo ra phương pháp Vigenere

Người Việt đã cố gắng để tăng cường kiến thức, họ nghiên cứu quyển sách “Element de cryptographie” viết bởi  Roger Baudouin năm 1939. Năm 1948, Việt Minh xuất bản sách hướng dẫn mật mã học mang tên ” Mật mã đại cương” bao gồm những kiến thức căn bản về mật mã.

Tuy nhiên, Pháp cũng không quá mạnh về mật mã những năm này, phần lớn họ cũng dùng phương thức Vigenere. Tại sao Pháp lại dùng 1 phương pháp mà người Pháp đã sáng tạo ra cách đây 400 năm? Những lý do hợp lý:

+ Việt Nam quá xa Pháp. (Note: Tại thời điểm đó khoảng cách là cả 1 vấn đề, điều này dẫn đến việc quân Pháp tại Việt Nam gần như hoạt động độc lập so với chính quốc. Bảo mật thông tin không là vấn đề thực sự quan trọng lúc bấy giờ. )

+ Nhân lực của Pháp ở Việt Nam không phải là những người giỏi nhất.

+ Người sử dụng ngại sử dụng mật mã.

+ Mật mã càng tốt thì càng chậm.

(Note: Sử dụng mật mã là sự đánh đổi giữa bảo mật và sự thuận tiện. Thâm chí trong thế giới hiện đại nhiều người vẫn chọn sự thuận tiện hơn. Việc người dùng ngại mật mã là 1 câu chuyện muôn thuở, tuy nhiên hậu quả của nó thì khôn cùng hơn nhiều trong thời chiến)

Như vậy, trong những năm đầu, trình độ mã hóa của Việt Minh và Pháp tương đương nhau, đã có nhiều bí mật được phát hiện và đọc bởi cả 2 bên. Trong giai đoạn sau, ít nhất những bí mật cấp cao đã được mã hóa kỹ càng hơn.

Theo Christipher Goscha,chuyên gia hàng đầu về chiến tranh Pháp – Việt , Việt Minh là lực lượng chiến tranh du kích duy nhất trong thế kỷ 20 có trình độ thông tin và tình báo cấp cao ( bao gồm cả mã hóa) có thể tương đương và lắm lúc nhỉnh hơn cả lực lượng xâm chiếm thuộc địa.

Trong một góc nhìn khác, thậm chí trong những năm sau, sự hiểu biết về mật mã của  Việt Minh thường không được chuyển xuống lực lượng chiến đấu 1 cách hiệu quả.

1 ví dụ thú vị đang được trưng bày ở Bảo tàng Cảnh sát Hà Nội miêu tả cảnh 1 chiến binh Việt Minh trong ngày 27/9/1950 làm nổ tung tàu Amyot d’Inville của Pháp, ngăn chặn 1 cuộc tấn công quan trọng vào vùng Thanh Hóa – Nghệ An- Hà Tĩnh, những vùng đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Quân Việt Minh đã sử dụng hệ mật mã Vigerene để chuyển thông điệp kế hoạch tấn công trước khi quân Pháp kịp chuẩn bị. Điều thú vị là trong thông điệp được gửi đi có kèm cả chìa khóa giải mã, một điều cấm kỵ trong bảo mật thông tin. Nhưng nếu như Việt Minh xài mật mã yếu như vậy thì tại sao quân Pháp lại không có khả năng phát hiện ra kế hoạch tấn công này?  Có 2 lý do có thê xảy ra:

+ Quân Pháp chưa bao giờ lấy được bất cứ thông tin nào về kế hoạch tấn công.

+ Quân Pháp lấy được tài liệu, nhưng lại quá khinh thường Việt Minh nên không giải mã thông điệp này mặc dù đã có được chìa khóa.

Chúng ta có thể thấy được là cả lực lượng chiến đấu trên chiến trường của cả 2 bên đều không có sự chú ý cần thiết về tầm quan trọng của mật mã, bị tách biệt với kiến thức về mật mã  đang được nghiên cứu ở trung tâm.

Năm 1990, chính phủ Việt Nam xuất bản 1 quyển sách lịch sử mã hóa ở Việt Nam, được NSA dịch với tiêu đề “Essiential Matters”. Trong đó có nhiều thông tin thú vị:

essential-matters-history-of-the-cryptographic-branch-of-the-people-s-army-of-vietnam-1945-1975_13641908

  • Đội mật mã học thuộc Quân Đội Nhân Dân Việt Nam được thành lập vào ngày 12/9/1945, chỉ 10 ngày sau ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc Lập, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của chính quyền Việt Nam vào mật mã học.
  • Trong những năm cuối thập kỷ 1950, Việt Nam gửi đội chuyên gia của mình sang tập huấn tại Trung Quốc, và điều này làm tăng khả năng của Việt Nam lên rất nhiều.
  •  Kinh nghiệm của Trung Quốc là 1 mẫu hình tốt cho Việt Nam, bởi vì Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa chiến thắng các đế quốc phương Tây trong 1 cuộc chiến tranh du kích vĩ đại. Nhưng do hệ chữ cái của Trung Quốc khác với hệ chữ cái Latin, nên vấn đề mã hóa giữa 2 quốc gia cũng có sự khác việt. Trung quốc phải chuyển đổi tiếng của mình sang hệ Latin, xong mới mã hóa thông điệp, trong khi Việt Nam, xài bảng chữ cái Latin có chỉnh sửa, chỉ phải sử dụng phương thức mã hóa thông thường có chỉnh sửa.

Trong 1 bản báo cáo của NSA năm 2007, có đoạn :

“Tiếng Việt không thể chuyển đổi sang mã Morse được bởi vì những âm tiết kỳ lạ và hệ thống dấu của nó. Những chuyên gia ngôn ngữ mật mã của NSA phải hiểu được hệ thống được tạo ra bởi người Việt để chuyển tải những tính chất này sang mã Morse trước khi bắt tay vào việc dịch. ”

VD : ơ = ow , ư = uw , ươ = wow ( chú ý rằng âm w không có trong tiếng Việt)

Cũng trong báo cáo “Năm 1961… những chuyên gia phân tích tại NSA biết được đối thủ của mình rất giỏi trong việc mã hóa và họ có 1 sự tôn trọng nhất định cho ngành mật mã học của miền Bắc Việt Nam”.

+Trong thập niên 1950s, viện trợ nước ngoài về bảo mật thông tin phần  lớn là từ Trung Quốc. (Note: cuộc cải cách ruộng đất, phần nhiều là ảnh hưởng từ phía nước bạn cũng xảy ra ở những năm này. Điều này khá hợp lý khi Việt Nam nhận cả viện trợ và sự ảnh hưởng từ người láng giềng phương Bắc. Không có bữa ăn nào là miễn phí. ) Cuối thập niên 1950, Liên Xô bắt đầu thay thế Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp thông tin về mật mã , nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ Việt Nam trong các mảng khác, đặc biệt là trong phòng không.

+ Thông tin tình báo Mỹ cho biết trong khoảng từ năm 1965-1973, ước tính khoảng 5000 cốvấn (adviser) Trung Quốc bị giết hoặc bị thương trước những cuộc công kích của Không Quân Mỹ ( Note: Điều này khá đáng ngạc nhiên, nhưng cũng không quá bất ngờ. Điều này chứng tỏ chiến thắng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ của Trung Quốc, và 2 nước đã từng là những đồng minh rất thân cận. Con số thực có thể là 3000-4000, do dù nước Mỹ là 1 nước có thông tin đáng tin cậy, con người thường có xu hướng thổi phồng thành tích của mình. Dù Mỹ có thổi phồng con số đi nữa, những hy sinh của Trung Quốc cho Việt Nam cũng là rất lớn) . Đây là 1 thời điểm khó khăn cho Việt Nam, khi tướng Không Quân Mỹ Curtis Lemayn nổi tiếng với câu nói “đánh bom để đưa bọn chúng trở về thời đồ đá”

800px-curtis_lemay_28usaf29

Tướng 4 sao Curtis Lemay -chỉ huy Không Quân Mỹ

+ Đáp trả lại những yêu cầu từ Hà Nội, trong 2 năm từ 1959 -1961, Ủy ban An ninh Quốc gia Nga(KGB) đã viện trợ tiền, thiết bị, và tập huấn về kỹ năng thông tin bằng radio và cách thức giao tiếp bảo mật cho phía Việt Nam trong một dự án có tên là “Phương Đông”

+ Dựa trên báo cáo của Merler Pribblenow, khi bắt đầu xuất hiện những căng thẳng và nghi ngờ trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu phát triển những ý tưởng và tài liệu mật mã của riêng mình. Họ không còn phụ thuộc vào Liên Xô hay Trung Quốc nữa. Điều này hóa ra lại mang đến vấn đề lớn cho NSA. Do NSA đã nghiên cứu  hệ thống mật mã của Trung Quốc và Liên Xô trong nhiều năm, họ có nhiều kinh nghiệm đối phó với hệ thống mã hóa của 2 nước này. Khi Việt Nam phát triển hệ thống riêng của mình, NSA gặp phải rất nhiều khó khăn. Một điểm cần chú ý nữa là Việt Nam thường xuyên thay đổi kỹ thuật của mình, khiến việc giải mã rắc rối gấp bội.

II.KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1961 – 1975) 

Trong lịch sử của ngành mật mã học, người ta thường chia ra làm 2 hướng: tấn công hoặc phòng thủ. Có 2 câu hỏi cơ bản cần phải trả lời:

+ Việt Nam có khả năng chặn và đọc tín hiệu của Mỹ không?

+ Việt Nam có thể truyền được tin 1 cách bảo mật không?

Đối với câu hỏi đầu tiên, nhiều khả năng câu trả lời là  “Không”, bởi vì 2 lý do chính:

1)

NSA đánh giá cao khả năng giải mã của Bắc Việt Nam và Mặt Trận Dân Tộc giải phóng Miền Nam (National Liberation Front: NLF) . Đó lý do NSA khuyên quân đội Mỹ nên sử dụng những phương thức truyền tin có độ bảo mật cao.

Một nguồn tin nữa khẳng định điều này là Brian Snow, người bắt đầu làm việc ở NSA từ 1972, và trở thành giám đốc kỹ thuật về mảng phòng thủ ( communication security, COMSEC) . Ông nói rằng NSA luôn nghĩ tới tình huống xấu nhất. Họ luôn cố gắng để cho quân đội Mỹ sử dụng những phương thức bảo mật tiên tiến nhất cho những thông tin chiến lược ở Việt Nam. Do đó, khả năng Việt Nam có thể phá được lớp bảo mật thông tin của Mỹ là ít, vì kỹ thuật đòi hỏi cho việc này là rất cao.

2)

Phần lớn những liên lạc trên chiến trường của Mỹ thường không được mã hóa và thường chứa những tiếng lóng, biệt ngữ, mà chỉ người trong cuộc mới hiểu. Đây là bởi vì thiết bị mã hóa giọng nói NESTOR ( phát triển bởi NSA và được đưa vào sử dụng tại Việt Nam vào năm 1965) hoạt động tệ tại điều kiện chiến trường Việt Nam. Chiếc máy được thiết kế khá tốt, nhưng thời tiết nóng ẩm ở Việt Nam thì khác hoàn toàn so với Mỹ.

330px-ky38manpack

Hình máy KY38 – 1 phần của hệ thống NESTOR.

800px-ky-8_nestor_wideband_tactical_secure_voice_equipment2c_vehicular_or_fixed_plant_-_national_cryptologic_museum_-_dsc08003

KY-8 , bộ giải mã NESTOR đặt ở căn cứ. 

Mặc dù nhiều người trong quân đội Mỹ nghĩ rằng người Việt sẽ không bao giờ hiểu được những trao đổi chứa nhiều biệt ngữ của Mỹ , trên thực tế, NLF thường xuyên có thể phát hiện và tận dụng những sơ hở trong thông tin chiến thuật bởi quân đội mỹ (Note : chiến thuật(tactic) # chiến lược(strategy) ,  khi vào chiến trường thì xài chiến thuật, khi ở trên tổng thể thì phải xài chiến lược)

Trong quyển sách xuất bản năm 1982 bởi tướng 3 sao Charles Myer, ông kể về 1 cuộc đột kích vào một trụ sở của NLF vào 20/12/1969 dẫn đến việc bắt giữ 12 lính du kích và 1 số lượng lớn tài liệu và thiết bị liên lạc.

Bằng cách tra khảo tù binh và kiểm tra thiết bị, Mỹ biết được rằng Việt Nam đã có những thiết bị giải mã hiện đại và những chuyên gia ngôn ngữ, những người nghiên cứu cách nói chuyện của lính Mỹ, những biệt ngữ, tiếng lóng …. Họ có thể ” điều khiển và tận dụng hầu hết những giao tiếp không bảo mật”. Tài liệu thu thập được chứa ” nhiều hướng dẫn về những phương thức đánh chặn thông tin và những bản đánh giá chi tiết về phương thức giao tiếp lẫn những lỗ hổng bảo mật có thể tận dụng của Mỹ và đồng minh”.

Khi tướng Creighton Abram, tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, được báo cáo về điều này, ông nói ” Điều này thực sự quá kinh ngạc, về sự chi tiết,sự chính xác tuyệt đối, và sự chuyên nghiệp của nó” . Sau đó, ông ra lệnh quân đội Mỹ bắt buộc phải tăng cường khả năng bảo mật thông tin của họ.

220px-gen_creighton_w_abrams

Tướng 4 sao Creigton Abram – tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam

Dù vậy, quân Mỹ trên chiến trường tỏ ra khá miễn cưỡng trong việc sử dụng những biện pháp bảo mật mạnh cho việc trao đổi thông tin chiến thuật. Myers kết luận ” Tất cả những người dùng thiết bị liên lạc đều có khả năng nhận thức được ít hay nhiều sự dễ bị tổn thương của họ đối với việc đánh chặn, phân tích, giải mã của kẻ thù và sự cần thiết của việc mã hóa và xác thực . Thế nhưng, khoảng cách giữa việc biết và việc ứng dụng là quá lớn, và ở Việt Nam, nhiều lúc khoảng cách này là không thể vượt qua. ”

Myer kể về “nhiều tình huống được ghi lại” về việc NLF gửi những bức điện giả . “Trong 1 trường hợp, kẻ thù xâm nhập được trong mạng điện thoại nội bộ của 1 cứ điểm phòng thủ và chuyển hướng lực lượng dự trữ ra khỏi vùng mà NLF sắp tấn công”.

Ông còn kể về 1 trường hợp khi 1 điện tín viên Mỹ bỏ chiếc khăn che thiết bị KY-8 NESTOR để cho thông gió và giảm nhiệt ( chiếc máy thường khá nóng, và dễ bị hỏng vì điều này) . “Điều này làm tăng khả năng hoạt động của KY-8 nhưng nó lại vị phạm nguyên tắc bảo mật vì nó đã làm lộ thiết bị và cho đối phương khả năng đánh chặn những thông tin tình báo”. (Note: điều này khá thú vị. Một trong những nguyên tắc bảo mật trong việc mã hóa là phải không cho đối phương biết cái nào là cái chìa khóa. Việc bỏ lớp che phủ khỏi KY-8 làm giảm khả năng bảo mật của hệ thống, do chính phủ miền Nam Việt Nam khi đó thường có rất nhiều điệp viên từ miền Bắc.) 

Nhưng ngược lại, NLF nhiều khả năng không thể phá vỡ được hệ thống bảo mật cao của những thông tin chiến lược của Mỹ. Một lý do nữa để tin rằng việc phá mã những thông tin chiến lược của Mỹ không được thực hiện bởi vì Việt Nam có một lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ, mà người nổi tiếng nhất trong số đó là Phạm Xuân Ẩn.

*Còn tiếp*