[Day 15] Top 10 books I enjoy in 2016

Even though the year has not ended yet, but here some of the books I did enjoy in 2016.

Review:

  1. 1984 (in Vietnamese)
  2. Homage to Catalonia (in Vietnamese)
  3. Atlas Shrugged
  4. How reading Adam Smith can change your life  
  5. Mình và họ
  6. Daring to touch Radha
  7. Antifragile
  8. How not to be wrong
  9. Deschooling Society
  10. The Art of Loving

[Day 13] The distance between lost and found – A story of the past me. ( 5 min read)

 

          the-distance-between-lost-and-found

“The distance between lost and found” is a story about three youngsters getting lost for five days in their hiking trip. While fighting for their survival, they discover themselves and form a bond as their stories start unfolding. By showing the audiences the mental and physical struggles that each of these youngsters had gone through, the book depicts how miscommunication, assumptions and social pressures can destroy a person.

Hallelujah used to sing a lot. Holmes writes “singing used to be her life…Music used to burst from her. She couldn’t contain it” (4). However, “she doesn’t sing anymore. She can barely stand to listen” (4). All it takes for Hallelujah to polarize completely is a moment when she got caught with Luke, a popular boy, and people start to believe his side of the story. By not speaking about what happened on that night, Hallelujah has missed every opportunity she was afforded to make things right. The author has done a marvelous job building Hallelujah’s character. The self-pity cycle of being too shy to speak, starting blaming others for not understanding, seeing things getting worse, realizing it is too late and then deciding to shut herself even more, keeps repeating within Hallelujah. She is vulnerable. She is scared. The further things are out of Hallelujah’s control, the sturdier the wall she made to distance herself with others.

I used to be Hallelujah. I used to blame others for not understanding me without giving them a chance to do so. I have cried a lot, asking why this world is being unfair to me, not realizing I was the one who was unfair to others. Similar to what Hallelujah has done with Sarah and Rachel, I was rude to the people that only want to help. All I thought about is how miserable I was, and how insensitive they were to my pain. I did not want it to be easy. I wanted it to be hard. I wanted to see me suffered, to show the world that how bad they were. Like Hallelujah, I started doubting my identity and went off-course to punish myself. After beating myself times to times, I start regaining my sanity by realizing that I should not handle everything alone, and I should ask for help without feeling shameful about it.

In the book, Hallelujah does not have any chance to reach that self-realization. Everyone continuously attacks her, including whom she considers her dearest. Hallelujah’s character represents a group of adolescents in our society who are introvert, vulnerable, inexperienced, and socially anxious. Like Hallelujah, they need help, but they are too shy and unwilling to accept it. Once they arrive at the self-pity cycle, everything is getting worse and worse “Out of control. I didn’t know how to defend myself. What to say” (161). Hallelujah’s story also represents how rude and cruel people can be with ignorance. None of her friends realize the toll the group isolation takes on her, how much she has changed over the year, and especially the magnitude of cruelty in their act. Intentionally or not, they push Hallelujah deeper into her throes and deny all of her efforts trying to escape “I can’t stand to have people looking at me. Laughing at me. That’s why I quit” (201).

Jonah, one of Hallelujah’s best childhood friend, is one of the major reasons that Hallelujah’s life was extremely miserable. He not only remains silent about what happened but also distance himself from Hallelujah since that incident. He thinks she is a slut and “by ignoring you, by staying mad at you, I could make it go away” (167). Because of Jonah’s assumption about Hallelujah’s character, both suffer a lot. Jonah’s actions illustrate how a good person can hurt who he loves by making his assumptions without confirmation. Like Hallelujah, Jonah is too afraid. He is too scared to hear the truth. He does not want to confront Hallelujah, to learn what happened. Thus, Jonah chooses to believe in his theory and distances himself about the cause of his pain. Jonah, in a way, is Hallelujah. Both do not have the courage to confront the truth. Both are insecure. To Hallelujah, it is about the fact that she brought herself to Luke. To Jonah, it is about the fact that Hallelujah chose Luke over him. Silence is what they choose, and it is what tear their lives apart.

I used to be Hallelujah. I used to be Jonah. I used to choose silence. It does not work. It is futile. However, people like me do not have to go through hell like what Hallelujah, Jonah and myself have experienced. I believe by emphasizing the importance of listening and sympathizing, we could reduce the suffering that people are causing to each other.

Reference:

Holmes, Kathryn. The distance between lost and found. Harper Collins Publishers, 2015

[Day 12] Mật mã trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ(phần 2)

Link phần 1. 

*Tiếp nối kỳ trước khi đang đề cập tới lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ của Việt Nam, trong đó có 2 gương mặt nổi bật, đó chính là Phạm Xuân Ẩn và Nguyễn Đình Ngọc.

7xh1jz3

Phạm Xuân Ẩn (1927 -2006)  – Điệp viên huyền thoại – thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam

Phạm Xuân Ẩn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam vào năm 1953, dưới sự chủ tọa của Lê Đức Thọ (lúc này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam) và được ra lệnh rút khỏi bất cứ hoạt động nào có thể làm tiết lộ cảm tình với cách mạng. Ẩn sau đó được gửi tới Mỹ trong năm 1957 để học chuyên ngành báo chí. Sau đó, ông được gửi tới Sài Gòn với tư cách là một nhân vật nhân vật trọng yếu cho truyền thông Mỹ, đặc biệt là trong những năm quan trọng nhất của chiến tranh, khi ông làm việc cho tờ Time. Ông được tin tưởng bởi những nhân vật vật cấp cao của CIA cũng như những nhân vật ảnh hưởng lớn tại chính quyền Nam Việt Nam ( South Vietnam regime : RVN)

(Note: Về Phạm Xuân Ẩn, để biết thêm được nhiều về cuộc đời của điệp viên huyền thoại này, mình nghĩ cuốn sách Phạm Xuân Ẩn -Điệp viên hoàn hảo sẽ là 1 bắt đầu rất tốt. Mặc dù Phạm Xuân Ẩn có nói với Larry Berman, người phỏng vấn ông và cũng là người viết quyển sách, rằng sẽ có những bí mật mà đến khi chết ông vẫn không thể nói được, rằng ông phải là người đưa nó xuống mồ, nhưng trong quyển sách bạn sẽ tìm thấy sự tài hoa của Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời không thể tin được của ông. Ông sống một cuộc đời mà ông không thể kể với ai, và ông phải ngủ với ý thức rằng mình có thể bị phát giác bất cứ lúc nào.Phạm Xuân Ẩn là một người Việt Nam yêu Mỹ, và yêu Việt Nam. ) 

Phạm Xuân Ẩn làm việc cho Mặt Trận giải phóng Dân Tộc Miền Nam (NLF) và tình báo Bắc Việt Nam trong 15 năm (1960 – 1975), nghĩa là trong toàn bộ cuộc chiếb. Trong khoảng thời gian đó, ông nhận được tổng cộng 16 huy chương, tất cả đều được trao trong bí mật.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và Bác Hồ , khi nhận được báo cáo của Ẩn, đã nói “Bây giờ chúng ta đang đứng trong phòng chiến tranh của Mỹ “ (Note: phòng những tướng Mỹ bàn về chiến lược chiến tranh” ) . Phạm Xuân Ẩn được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15 tháng 1 năm 1976. Ông cũng được phong hàm thiếu tướng – hàm cao nhất từng được trao cho một điệp viên. Khi ông mất vào năm 2006, ông được truy điệu bởi nghi thức tang lễ của một anh hùng chiến tranh.

2 quyển sách nổi tiếng về ông:

diep-vien-hoan-hao-x6-a_1_3the-spy-who-loved-us-483

Điệp viên hoàn hảo                                                           The spy who loves us

Một nhà toán học hoạt động ngầm ở Sài Gòn và cũng được phong hàm thiếu tướng đó chính là Nguyễn Đình Ngọc (1932 -2006).

(Note: viết xong mình mới để ý là cả bác Ngọc và bác Ẩn đều mất năm 2006.)

a-a-ngoc-1

Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc – Thiếu tướng tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông gia nhập lực lượng tình báo năm 1953, vào Sài Gòn và lấy học bổng sang Pháp năm 1955. Năm 1966, ông trờ về quê hương với 3 bằng kỹ sư và 2 bằng Tiến sĩ khoa học . Trong thập niên 1980s, ông đã giúp tổ chức nhiều buổi hội thảo về đại số,topology (Note : mình chưa tìm được cách dịch từ này) và nhiều lĩnh vực khác tại Hà Nội.

Trong chiến tranh Việt – Mỹ, Gs. Nguyễn Đình Ngọc, người thông thạo tiếng Anh và Pháp, là cầu nối cho nhiều cộng đồng nước ngoài tại Sài Gòn và thu thập được nhiều thông tin tình báo có giá trị từ họ.

Ngọc là 1 người khá khép kín về hoạt động của mình, nên rất nhiều điều bí ẩn còn chưa được biết tới về ông. Ngoài Ngọc và Ẩn, còn rất nhiều những điệp viên khác hoạt động trong chính quyền Nam Sài Gòn. Như vậy, lý do thứ hai để nghi ngờ việc Việt Nam phá vỡ được bảo mật về thông tin chiến lược của Mỹ rất đơn giản : Nếu họ có những điệp viên như thế này, giải mã làm gì cho mất công??

Tuy nhiên đối với những điệp viên như Ngọc và Ẩn, Việt Nam đương nhiên không muốn liên lạc giữa họ và trụ sở bị bắt giữ và đọc. Trong khoảng thời gian 1960 – 1975, khi Phạm Xuân Ẩn gửi những thông tin bí mật từ những nguồn tin cấp cao của Mỹ và Nam Việt Nam, trong số 45 liên lạc viên hoạt động chuyển tin cho ông, 27 người đã bị bắt giữ, tra tấn, và giết. Tuy nhiên, Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát hiện. Như vậy có phải là Việt Nam đã sử dụng rất tốt việc mã hóa thông tin không?

Sự thật là không phải vậy.

Thông tin tình báo của Phạm Xuân Ẩn thường sẽ được chia thành 2 phần – phần trọng yếu ( thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ) bao gồm những thông tin khẩn cấp, nhạy cảm và những phần kém quan trọng, kém nhạy cảm hơn. Phần trọng yếu sẽ được gửi bởi những phương thức bảo mật cao bằng đường radio đến trung tâm đầu não của NFL tại Campuchia. Phần còn lại sẽ được 1 người lính chuyển bằng chân tới trụ sở của chính quyền Bắc Việt Nam tại Hà Nội. Trong phần tin chuyển bằng radio, phía Việt Nam sẽ sử dụng từ thay cho chữ cái, ví dụ như muốn chuyển từ “HAY” thì sẽ phải chuyển từ ” Hong Anh Yeu”, giống cách mà quân đội Mỹ sử dụng  “Alpha, Bravo, Charlie…” thay cho ABC.

Merle Pribbenow cho biết rằng phía Mỹ chưa bao giờ phá được mật mã cấp cao mà phía Việt Nam sử dụng cho những thông tin chiến lược của họ. Tuy nhiên, ông cũng cho biết rằng những thông tin chiến thuật thường không được mã hóa hoặc mã hóa yếu và nó rất dễ dàng cho NSA để phá.

(Note: Như vậy, gần như ta đã có bức tranh tổng thể về cuộc chiến Mỹ – Việt. Cả 2 bên, vì nhiều lý do, đều có khả năng phá được những thông tin chiến thuật của đối phương, nhưng lại bất lực trong việc xâm nhập vào thông tin chiến lược. )

Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao tình báo Mỹ lại không có khả năng xác định được nguồn của những đoạn báo cáo không được mã hóa nhiều của những liên lạc lạc viên bắt được? 

  1. Có phải họ không biết là NLF gửi thông tin bằng mực vô hình không?

Không- CIA, và thậm chí cả Pháp đều biết rất rõ rằng hầu hết những thông tin tuyệt mật đều được viết bởi mực vô hình

2.Có phải những liên lạc viên đã kịp tiêu hủy thông tin trước khi bị bắt?

Có lẽ phần lớn là vậy. Nhưng luôn luôn ư?

3. Có nguồn tin nào từ những đoạn báo cáo tìm thấy được có yếu tố có thể truy ra Phạm Xuân Ẩn hoặc ít nhất là thu nhỏ vùng tìm kiếm không?

Có lẽ trong toàn bộ các trường hợp, những đầu mối đều dẫn tới rất nhiều khả năng, bởi lúc đó trong quân đội Nam Việt Nam chứa đầy những điệp viên như Ẩn.

Hai yếu tố liên lạc viên kịp tiêu hủy, đầu mối quá nhiều cộng với việc quân Mỹ chưa bao giờ phá được điện tín radio của quân Việt Nam đã khiến cho Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ bị phát giác trong suốt 15 năm hoạt động tình báo của mình.

Merle Pribblenow, nghỉ hưu năm 1995, sau 27 năm làm cho CIA với với trò chuyên gia ngôn ngữ Việt Nam, đã nói “Bắc Việt gửi những chuyên gia mật mã và điện tín viên radio… trong những năm đầu 1960… để nâng cấp bảo mật thông tin liên lạc của họ ở trong Nam”.

“Người Việt sử dụng nhiều hệ thống khác nhau trong suốt thời gian chiến tranh, và nâng cấp hệ thống mã hóa của họ nhiều lần”.

“Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, họ ít nhất đã sử dụng hệ thống bảo mật 2 lớp, bao gồm việc có  đoạn mật mã thay thếtừ trong sách mật mã và rồi chuyển đổi thông điệp bằng tập giấy chỉ xài 1 lần.

Trong quyển sách mật mã, mỗi chữ trong tiếng Việt được chuyển thành 1 khối 5 chữ cái tiếng Latin, có lẽ được tạo ra một cách ngẫu nhiên.

VD : tấn = afhbv , công = wxess ,  tấn công = afhbv wxess

(Note : cách này thật sự sáng tạo và mang đậm chất ngôn ngữ Việt. Khác với tiếng Anh, từ trong tiếng Việt được tạo ra từ chữ. Bằng cách có 1 quyển sách chuyển đổi tất cả chữ trong tiếng Việt sang 1 bản g code, chúng ta có 1 cách chuyển ngữ đậm bản sắc Việt Nam. Đây là sáng tạo của người Việt. )

Quyển sách mật mã này được gửi tới nhiều người dùng. Mặc dù tính bảo mật của nó không cao, khi bị quân Mỹ phát hiện được, nó lập tức được thay thế bởi 1 phiên bản khác. Tuy nhiên, tập giấy chỉ xài 1 lần thì chỉ được chia sẻ bởi người gửi và người nhận. Nó rất nhỏ (để có thể nuốt được), đến nỗi mà Việt Nam phải nhờ Liên Xô in giúp, do bản thân mình không có đủ trình độ để in. Người sử dụng phải dùng kính lúp để xem tập giấy này.

Trong báo cáo của NSA, có 2 lĩnh vực quan trọng mà Mỹ có đợi lợi thế chiến thuật từ việc phân tích và giải mã thông tin từ phía Việt Nam”

  • Bắt đầu từ năm 1967, đã có những ước tính chính xác về số lượng và đích đến của quân đội giải phóng đang tiến về miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh; điều này làm Mỹ có sự chuẩn bị cho việc phòng thủ vào năm 1968, khi Việt Nam mở chiến dịch Tết Mậu Thân.
  • Trong chiến dịch không kích Bắc Việt Nam, Mỹ có thể cảnh báo máy bay thả bom của họ về tên lửa phòng không (SAM) và máy bay MiGs của Việt Nam. Điều này đã tới việc Mỹ chọc thủng tuyến phòng thủ của Việt Nam và thả bom trực tiếp tại Hà Nội.

Vấn đề của Việt Nam chính là việc mã hóa thông tỉn rất chậm với những công nghệ sơ khai mà Việt Nam có lúc đó. Thông tin chiến thuật không thể gửi đi một cách an toàn khi mà:

  • Một số lượng lớn thông tin phải được chuyển đi trong giai đoạn 67-68, liên quan tới nhiều người, phải di chuyển vào miên Nam để chuẩn bị cho tổng tiến công Tết Mậu Thân.
  • Thông tin phải được chuyển cực nhanh, trong trường hợp phòng không.

Mặc dù Việt Nam đã bắn rơi được khá nhiều máy bay Mỹ, họ có thể bắn rơi được nhiều hơn thế nữa nếu họ có thể mã hóa được toàn bộ lệnh đến phi công MiGs và những người điều khiển tên lửa phòng không. Tuy nhiên, điều đó là không thể.

Vậy nên, việc phá mã đã giúp Mỹ gây nên được những chấn thương nặng nề hơn cho Bắc Việt, cả trong chiến dịch Tết Mậu Thân( Việt Nam thành công nhưng tổn thất lớn) và trong chiến dịch không kích. Thế nhưng nó không giúp ích được nhiều trong việc lên kế hoạch chiến lược và tất nhiên không thể ảnh hưởng tới kết quả cuộc chiến.

Kết luận: 

Mặc dù có sự vượt trội về công nghệ từ phía Mỹ, bảo mật về thông tin của cả 2 bên gần như ngang bằng nhau:

  • Tốt cho thông tin chiến lược.
  • Tệ cho thông tin chiến thuật.

Tại sao mật mã lại có thể làm cho 2 bên ngang bằng nhau: Vì mật mã là thuần toán học, nó không cần đầu tư nhiều. Nó là cuộc đấu về trí tuệ, không phải là tiền.

Việt Nam có 1 truyền thống lâu đời về toán, với Gs.Lê Văn Thiêm, Gs.Hoàng Tụy và bây giờ là Gs.Ngô Bảo Châu.

gs20le20van20thiem2010b0eef52-0116-4de8-80b1-77d673728df4

Gs. Lê Văn Thiêm                                                                   Gs. Hoàng Tụy

INDIA-SCIENCE-MATHEMATICS-CONGRESS

Gs. Ngô Bảo Châu

Note: Như vậy mình đã dịch xong bài nói của Gs. Niel Koblizt. Điều thú vị nhất mà mình thấy từ bài nói của giáo sư chính là khi NSA gặp khó khi Việt Nam tự phát triển hệ thống mật mã của riêng mình dựa trên ngôn ngữ Việt. Có được tiếng Việt chính là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của chúng ta. Một mặt, chúng ta khó có thể áp dụng được những cách chuyển mã tiên tiến nhất của thế giới, do nó được sử dụng cho tiếng Anh. Mặt khác, khi chúng ta phát triển được một hệ thống đặc trưng cho tiếng Việt, nó sẽ khó bị phá hơn do tiếng Anh thì quá nhiều người xài, mọi người đều hiểu quả rõ về nó. Tiếng Việt thì không như vậy. 

Đây là lĩnh vực Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được với Mỹ, do nó đòi hỏi chất xám thuần khiết, như giáo sư Koblizt đã kết luận.

Cảm ơn các bạn đã đọc hết bài này của mình. Mình học được khá nhiều từ việc dịch bài này. Hy vọng các bạn cũng học được 1 thứ gì đó thú vị. Nếu các bạn phát hiện ra lỗi trong việc dịch thuật hoặc chính tả, vui lòng báo cho mình biết để sửa nhé.)

[Day 11] Mật mã của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ (phần 1)

Mình dịch bài phát biểu của giáo sư Neal Koblizt, đại học  Washington, Mỹ tại hội đàm Mật Mã học Châu á vừa diễn ra ngày 7/12/2016 tại Hà Nội. Mình sẽ tóm tắt dưới dạng article bài phát biểu của giáo sư (dài khoảng 1 tiếng), chuyển thành tiếng Việt và thêm vào note của mình dưới dạng chữ nghiêng.

*Thuật ngữ thường sử dụng:

NSA : National Security Agency: Cơ quan An Ninh Quốc Gia Mỹ

NFL : National Liberation Force : Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam

I. KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Mật mã Việt Nam những năm đầu  còn đang ở trong giai đoạn rất sơ khai – chủ yếu dùng phiên bản yếu của phương thức mã hóa Vigenere với độ dài chìa khóa là 5.

vigenere

Vigenere ( 1523 – 1596) người được coi là sáng tạo ra phương pháp Vigenere

Người Việt đã cố gắng để tăng cường kiến thức, họ nghiên cứu quyển sách “Element de cryptographie” viết bởi  Roger Baudouin năm 1939. Năm 1948, Việt Minh xuất bản sách hướng dẫn mật mã học mang tên ” Mật mã đại cương” bao gồm những kiến thức căn bản về mật mã.

Tuy nhiên, Pháp cũng không quá mạnh về mật mã những năm này, phần lớn họ cũng dùng phương thức Vigenere. Tại sao Pháp lại dùng 1 phương pháp mà người Pháp đã sáng tạo ra cách đây 400 năm? Những lý do hợp lý:

+ Việt Nam quá xa Pháp. (Note: Tại thời điểm đó khoảng cách là cả 1 vấn đề, điều này dẫn đến việc quân Pháp tại Việt Nam gần như hoạt động độc lập so với chính quốc. Bảo mật thông tin không là vấn đề thực sự quan trọng lúc bấy giờ. )

+ Nhân lực của Pháp ở Việt Nam không phải là những người giỏi nhất.

+ Người sử dụng ngại sử dụng mật mã.

+ Mật mã càng tốt thì càng chậm.

(Note: Sử dụng mật mã là sự đánh đổi giữa bảo mật và sự thuận tiện. Thâm chí trong thế giới hiện đại nhiều người vẫn chọn sự thuận tiện hơn. Việc người dùng ngại mật mã là 1 câu chuyện muôn thuở, tuy nhiên hậu quả của nó thì khôn cùng hơn nhiều trong thời chiến)

Như vậy, trong những năm đầu, trình độ mã hóa của Việt Minh và Pháp tương đương nhau, đã có nhiều bí mật được phát hiện và đọc bởi cả 2 bên. Trong giai đoạn sau, ít nhất những bí mật cấp cao đã được mã hóa kỹ càng hơn.

Theo Christipher Goscha,chuyên gia hàng đầu về chiến tranh Pháp – Việt , Việt Minh là lực lượng chiến tranh du kích duy nhất trong thế kỷ 20 có trình độ thông tin và tình báo cấp cao ( bao gồm cả mã hóa) có thể tương đương và lắm lúc nhỉnh hơn cả lực lượng xâm chiếm thuộc địa.

Trong một góc nhìn khác, thậm chí trong những năm sau, sự hiểu biết về mật mã của  Việt Minh thường không được chuyển xuống lực lượng chiến đấu 1 cách hiệu quả.

1 ví dụ thú vị đang được trưng bày ở Bảo tàng Cảnh sát Hà Nội miêu tả cảnh 1 chiến binh Việt Minh trong ngày 27/9/1950 làm nổ tung tàu Amyot d’Inville của Pháp, ngăn chặn 1 cuộc tấn công quan trọng vào vùng Thanh Hóa – Nghệ An- Hà Tĩnh, những vùng đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Quân Việt Minh đã sử dụng hệ mật mã Vigerene để chuyển thông điệp kế hoạch tấn công trước khi quân Pháp kịp chuẩn bị. Điều thú vị là trong thông điệp được gửi đi có kèm cả chìa khóa giải mã, một điều cấm kỵ trong bảo mật thông tin. Nhưng nếu như Việt Minh xài mật mã yếu như vậy thì tại sao quân Pháp lại không có khả năng phát hiện ra kế hoạch tấn công này?  Có 2 lý do có thê xảy ra:

+ Quân Pháp chưa bao giờ lấy được bất cứ thông tin nào về kế hoạch tấn công.

+ Quân Pháp lấy được tài liệu, nhưng lại quá khinh thường Việt Minh nên không giải mã thông điệp này mặc dù đã có được chìa khóa.

Chúng ta có thể thấy được là cả lực lượng chiến đấu trên chiến trường của cả 2 bên đều không có sự chú ý cần thiết về tầm quan trọng của mật mã, bị tách biệt với kiến thức về mật mã  đang được nghiên cứu ở trung tâm.

Năm 1990, chính phủ Việt Nam xuất bản 1 quyển sách lịch sử mã hóa ở Việt Nam, được NSA dịch với tiêu đề “Essiential Matters”. Trong đó có nhiều thông tin thú vị:

essential-matters-history-of-the-cryptographic-branch-of-the-people-s-army-of-vietnam-1945-1975_13641908

  • Đội mật mã học thuộc Quân Đội Nhân Dân Việt Nam được thành lập vào ngày 12/9/1945, chỉ 10 ngày sau ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc Lập, chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của chính quyền Việt Nam vào mật mã học.
  • Trong những năm cuối thập kỷ 1950, Việt Nam gửi đội chuyên gia của mình sang tập huấn tại Trung Quốc, và điều này làm tăng khả năng của Việt Nam lên rất nhiều.
  •  Kinh nghiệm của Trung Quốc là 1 mẫu hình tốt cho Việt Nam, bởi vì Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa chiến thắng các đế quốc phương Tây trong 1 cuộc chiến tranh du kích vĩ đại. Nhưng do hệ chữ cái của Trung Quốc khác với hệ chữ cái Latin, nên vấn đề mã hóa giữa 2 quốc gia cũng có sự khác việt. Trung quốc phải chuyển đổi tiếng của mình sang hệ Latin, xong mới mã hóa thông điệp, trong khi Việt Nam, xài bảng chữ cái Latin có chỉnh sửa, chỉ phải sử dụng phương thức mã hóa thông thường có chỉnh sửa.

Trong 1 bản báo cáo của NSA năm 2007, có đoạn :

“Tiếng Việt không thể chuyển đổi sang mã Morse được bởi vì những âm tiết kỳ lạ và hệ thống dấu của nó. Những chuyên gia ngôn ngữ mật mã của NSA phải hiểu được hệ thống được tạo ra bởi người Việt để chuyển tải những tính chất này sang mã Morse trước khi bắt tay vào việc dịch. ”

VD : ơ = ow , ư = uw , ươ = wow ( chú ý rằng âm w không có trong tiếng Việt)

Cũng trong báo cáo “Năm 1961… những chuyên gia phân tích tại NSA biết được đối thủ của mình rất giỏi trong việc mã hóa và họ có 1 sự tôn trọng nhất định cho ngành mật mã học của miền Bắc Việt Nam”.

+Trong thập niên 1950s, viện trợ nước ngoài về bảo mật thông tin phần  lớn là từ Trung Quốc. (Note: cuộc cải cách ruộng đất, phần nhiều là ảnh hưởng từ phía nước bạn cũng xảy ra ở những năm này. Điều này khá hợp lý khi Việt Nam nhận cả viện trợ và sự ảnh hưởng từ người láng giềng phương Bắc. Không có bữa ăn nào là miễn phí. ) Cuối thập niên 1950, Liên Xô bắt đầu thay thế Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp thông tin về mật mã , nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ Việt Nam trong các mảng khác, đặc biệt là trong phòng không.

+ Thông tin tình báo Mỹ cho biết trong khoảng từ năm 1965-1973, ước tính khoảng 5000 cốvấn (adviser) Trung Quốc bị giết hoặc bị thương trước những cuộc công kích của Không Quân Mỹ ( Note: Điều này khá đáng ngạc nhiên, nhưng cũng không quá bất ngờ. Điều này chứng tỏ chiến thắng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ của Trung Quốc, và 2 nước đã từng là những đồng minh rất thân cận. Con số thực có thể là 3000-4000, do dù nước Mỹ là 1 nước có thông tin đáng tin cậy, con người thường có xu hướng thổi phồng thành tích của mình. Dù Mỹ có thổi phồng con số đi nữa, những hy sinh của Trung Quốc cho Việt Nam cũng là rất lớn) . Đây là 1 thời điểm khó khăn cho Việt Nam, khi tướng Không Quân Mỹ Curtis Lemayn nổi tiếng với câu nói “đánh bom để đưa bọn chúng trở về thời đồ đá”

800px-curtis_lemay_28usaf29

Tướng 4 sao Curtis Lemay -chỉ huy Không Quân Mỹ

+ Đáp trả lại những yêu cầu từ Hà Nội, trong 2 năm từ 1959 -1961, Ủy ban An ninh Quốc gia Nga(KGB) đã viện trợ tiền, thiết bị, và tập huấn về kỹ năng thông tin bằng radio và cách thức giao tiếp bảo mật cho phía Việt Nam trong một dự án có tên là “Phương Đông”

+ Dựa trên báo cáo của Merler Pribblenow, khi bắt đầu xuất hiện những căng thẳng và nghi ngờ trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu phát triển những ý tưởng và tài liệu mật mã của riêng mình. Họ không còn phụ thuộc vào Liên Xô hay Trung Quốc nữa. Điều này hóa ra lại mang đến vấn đề lớn cho NSA. Do NSA đã nghiên cứu  hệ thống mật mã của Trung Quốc và Liên Xô trong nhiều năm, họ có nhiều kinh nghiệm đối phó với hệ thống mã hóa của 2 nước này. Khi Việt Nam phát triển hệ thống riêng của mình, NSA gặp phải rất nhiều khó khăn. Một điểm cần chú ý nữa là Việt Nam thường xuyên thay đổi kỹ thuật của mình, khiến việc giải mã rắc rối gấp bội.

II.KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1961 – 1975) 

Trong lịch sử của ngành mật mã học, người ta thường chia ra làm 2 hướng: tấn công hoặc phòng thủ. Có 2 câu hỏi cơ bản cần phải trả lời:

+ Việt Nam có khả năng chặn và đọc tín hiệu của Mỹ không?

+ Việt Nam có thể truyền được tin 1 cách bảo mật không?

Đối với câu hỏi đầu tiên, nhiều khả năng câu trả lời là  “Không”, bởi vì 2 lý do chính:

1)

NSA đánh giá cao khả năng giải mã của Bắc Việt Nam và Mặt Trận Dân Tộc giải phóng Miền Nam (National Liberation Front: NLF) . Đó lý do NSA khuyên quân đội Mỹ nên sử dụng những phương thức truyền tin có độ bảo mật cao.

Một nguồn tin nữa khẳng định điều này là Brian Snow, người bắt đầu làm việc ở NSA từ 1972, và trở thành giám đốc kỹ thuật về mảng phòng thủ ( communication security, COMSEC) . Ông nói rằng NSA luôn nghĩ tới tình huống xấu nhất. Họ luôn cố gắng để cho quân đội Mỹ sử dụng những phương thức bảo mật tiên tiến nhất cho những thông tin chiến lược ở Việt Nam. Do đó, khả năng Việt Nam có thể phá được lớp bảo mật thông tin của Mỹ là ít, vì kỹ thuật đòi hỏi cho việc này là rất cao.

2)

Phần lớn những liên lạc trên chiến trường của Mỹ thường không được mã hóa và thường chứa những tiếng lóng, biệt ngữ, mà chỉ người trong cuộc mới hiểu. Đây là bởi vì thiết bị mã hóa giọng nói NESTOR ( phát triển bởi NSA và được đưa vào sử dụng tại Việt Nam vào năm 1965) hoạt động tệ tại điều kiện chiến trường Việt Nam. Chiếc máy được thiết kế khá tốt, nhưng thời tiết nóng ẩm ở Việt Nam thì khác hoàn toàn so với Mỹ.

330px-ky38manpack

Hình máy KY38 – 1 phần của hệ thống NESTOR.

800px-ky-8_nestor_wideband_tactical_secure_voice_equipment2c_vehicular_or_fixed_plant_-_national_cryptologic_museum_-_dsc08003

KY-8 , bộ giải mã NESTOR đặt ở căn cứ. 

Mặc dù nhiều người trong quân đội Mỹ nghĩ rằng người Việt sẽ không bao giờ hiểu được những trao đổi chứa nhiều biệt ngữ của Mỹ , trên thực tế, NLF thường xuyên có thể phát hiện và tận dụng những sơ hở trong thông tin chiến thuật bởi quân đội mỹ (Note : chiến thuật(tactic) # chiến lược(strategy) ,  khi vào chiến trường thì xài chiến thuật, khi ở trên tổng thể thì phải xài chiến lược)

Trong quyển sách xuất bản năm 1982 bởi tướng 3 sao Charles Myer, ông kể về 1 cuộc đột kích vào một trụ sở của NLF vào 20/12/1969 dẫn đến việc bắt giữ 12 lính du kích và 1 số lượng lớn tài liệu và thiết bị liên lạc.

Bằng cách tra khảo tù binh và kiểm tra thiết bị, Mỹ biết được rằng Việt Nam đã có những thiết bị giải mã hiện đại và những chuyên gia ngôn ngữ, những người nghiên cứu cách nói chuyện của lính Mỹ, những biệt ngữ, tiếng lóng …. Họ có thể ” điều khiển và tận dụng hầu hết những giao tiếp không bảo mật”. Tài liệu thu thập được chứa ” nhiều hướng dẫn về những phương thức đánh chặn thông tin và những bản đánh giá chi tiết về phương thức giao tiếp lẫn những lỗ hổng bảo mật có thể tận dụng của Mỹ và đồng minh”.

Khi tướng Creighton Abram, tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, được báo cáo về điều này, ông nói ” Điều này thực sự quá kinh ngạc, về sự chi tiết,sự chính xác tuyệt đối, và sự chuyên nghiệp của nó” . Sau đó, ông ra lệnh quân đội Mỹ bắt buộc phải tăng cường khả năng bảo mật thông tin của họ.

220px-gen_creighton_w_abrams

Tướng 4 sao Creigton Abram – tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam

Dù vậy, quân Mỹ trên chiến trường tỏ ra khá miễn cưỡng trong việc sử dụng những biện pháp bảo mật mạnh cho việc trao đổi thông tin chiến thuật. Myers kết luận ” Tất cả những người dùng thiết bị liên lạc đều có khả năng nhận thức được ít hay nhiều sự dễ bị tổn thương của họ đối với việc đánh chặn, phân tích, giải mã của kẻ thù và sự cần thiết của việc mã hóa và xác thực . Thế nhưng, khoảng cách giữa việc biết và việc ứng dụng là quá lớn, và ở Việt Nam, nhiều lúc khoảng cách này là không thể vượt qua. ”

Myer kể về “nhiều tình huống được ghi lại” về việc NLF gửi những bức điện giả . “Trong 1 trường hợp, kẻ thù xâm nhập được trong mạng điện thoại nội bộ của 1 cứ điểm phòng thủ và chuyển hướng lực lượng dự trữ ra khỏi vùng mà NLF sắp tấn công”.

Ông còn kể về 1 trường hợp khi 1 điện tín viên Mỹ bỏ chiếc khăn che thiết bị KY-8 NESTOR để cho thông gió và giảm nhiệt ( chiếc máy thường khá nóng, và dễ bị hỏng vì điều này) . “Điều này làm tăng khả năng hoạt động của KY-8 nhưng nó lại vị phạm nguyên tắc bảo mật vì nó đã làm lộ thiết bị và cho đối phương khả năng đánh chặn những thông tin tình báo”. (Note: điều này khá thú vị. Một trong những nguyên tắc bảo mật trong việc mã hóa là phải không cho đối phương biết cái nào là cái chìa khóa. Việc bỏ lớp che phủ khỏi KY-8 làm giảm khả năng bảo mật của hệ thống, do chính phủ miền Nam Việt Nam khi đó thường có rất nhiều điệp viên từ miền Bắc.) 

Nhưng ngược lại, NLF nhiều khả năng không thể phá vỡ được hệ thống bảo mật cao của những thông tin chiến lược của Mỹ. Một lý do nữa để tin rằng việc phá mã những thông tin chiến lược của Mỹ không được thực hiện bởi vì Việt Nam có một lực lượng tình báo cực kỳ tinh nhuệ, mà người nổi tiếng nhất trong số đó là Phạm Xuân Ẩn.

*Còn tiếp*

[Day 10] Talk with professor – Dr. Rosental (part 2) -Book recommendation,school system and college education (1o min read)

Find Part 1 here.

cr_new

Me: So what are the attributes, or what you may call habits, routines that you think are beneficial for philosophers?

Dr. Rosental:  I think probably some kind of curiosity of spirit, or in our language we call it desires, or seeking. I think there are very different kind of philosophy school today and each one requires different kinds of mental habits than others. Some schools of philosophy depend on logic. Some depend on close, careful reading of text. Some depend on observational skills and creativity. But I think some desires to seek out, some curiosity to understand would be common to anybody to want to be philosophers. If you lose your curiosity, then I don’t see any ways you can do philosophy. You will then just do book report. Every time I teach Intro, I read that materials dozens of time and I’m never tired of reading because I’m always find new things in it

Me: What is your favorite book? And what is the book that you wish people should read but they are not doing that right now?

Dr. Rosental: You mean in philosophy specifically?

Me: I mean in general.

Dr. Rosental: *think for some time* In some senses, that’s impossible to answer in that as I went go through life, I went to significant intellectual changes. What I thought was interesting and important at certain times is not what I find interesting and important at another times.  That creates an ambiguity in answering your question. One way to answer the question is what book affect me at the moment, but next week could be different and so was 2 weeks ago.

Me: Do you want me to rephrase the question?

Dr. Rosental: Sure.

Me: In the last year, what book is the most influential to you and what book do you wish the youth, like your students, to read but they’re not reading it right now? 

Dr. Rosental: Yes, it’s a easier question. I guess I would say a lot of the philosophy that I read is for work and so it’s not as exciting to me. It’s like a part of a big thing. But I also teach Great books (info: a course that study classical books) and I would say “The Brother Karamazoz” by Fyodor Dostoyevsky. I taught Great Books last spring and I have never read the book before. It’s a very significant book. It’s a very big deal. I think I would double up and say that the book people should read but they don’t because it’s very very long. And it’s also Russian and people are little bit, let’s say, afraid of the Russian sensibility.

Me: Do you want to have a introduction, like little advertisement for the book? Why should I read it?

Dr. Rosental: First of all, the story is very interesting. It’s well-written. It’s such a very nice read. In the book, he substantially engages in philosophical issues, religious issues, psychology, sociology, history, economics. I mean, he gets into these issues, and really explores them. But they don’t feel like they add on. They feel like they’re parts of understanding how the story works. His writing on these topics is very interesting, very productive I would say. It’s very rich.

Me: You said before that you did your thesis on Aquinas and he’s about philosophy combining faith and reason on education, right?

Dr. Rosental: Yes.

Me: So, what is your opinion about our current education system? How do you feel about obligatory schooling?

Looking at the history of obligatory school system, we can see that it started in the industrial era when they need mass education. It’s for workers and slaves. It is more about conformity, about creating product of human to follow orders. Do you think it is still appropriate in today lives? What is your opinion about that?

Dr. Rosental: That’s a good question. The Liberal Arts preceded all other forms of education, goes all the way back to the Ancient Greeks. And the notion was if you study the Liberal Arts, it would give you the resources to become a better, more informed, more virtuous person. Today, we slightly transform that question because we don’t generally live in a society that talks about virtuous people so much. But we’re more interested in the liberal aspect of Liberal Arts. In our society, we think that is important for an individual to steer their destiny through life. Individualism is really important in United States. And Liberal Arts are seen as giving you the tools to help determine your own future, and be able to choose from the options out there in the world, to give you the ammunition to find your way.

I think that mass education was necessary back in the Industrialized. And I think that there was a period, I would say from 30s,40s to the 70s, but mostly in the 60s and 70s, when the Liberal Art education’s mission was more dominant. So if you combine mass education with Liberal Arts, then you get the mass of people becoming more capable of more self-determining, so less like workers and slaves. I think that education has the potential of doing good if combining. I think the misfortune is definitely in the last 20 years, and significantly so after the Great Recession 8 years ago, education has swung back to career – oriented. First of all, they don’t value Liberal Arts field because they are not traditionally career-oriented. So they avoid subjects like Philosophy specifically. And I think what that does is it makes them direct to their career but they become slaves to that career path because they don’t know anything else. And they’re not likely to be very good people because they are not well-rounded, they don’t have much perspectives. Whatever they’re taught to be important on that career, they think that’s ethically important. I think it is very terrible.

Me: What is your opinion about this argument “The School is the Church of the Modern World” ? If you’re a children, you’re supposed to go to school. You’re supposed to go through K-12. The reason you go to college is because all jobs require some kind of degrees. The society are fooled by the efficiency of the school system. If you want to apply for a job, you must have a degree, but a degree is just a certificate for your ability of learning, not doing. People do not go to college for knowledge. People go to college for jobs. There are laws that require job to have requirements of a certain degree. There is a discrimination that forces people into the school system and that system creates its self-demand. What do you think about it?

Dr. Rosental: I think that assessment is largely accurate. I think it’s obligatory education is a very variable thing for a person who’ve gone into it with the eyes opened and seen the value of it. Otherwise, it’s just about enforcement. I think most jobs can be done without a college education. I think it’s a tragedy that most jobs require one. That’s just stupid. It’s basically means you have to spend 4 years and a bunch of money to get a job, and instead of that, you could have done the job right our of high school. So I think that lots of people shouldn’t go to college if the reason is to find a job. I also think that orientation on jobs at colleges, or job-training misses the point of what college education should be. I think technical school education is different. You need to learn how to repair cars or air-conditioner, or you need to work in a lab, or technicians or something. There is few post-high school education that you can learn that kind of stuff. But college education should be devoted to broad-based learning.

Me: Ok, so here is the last question, what do you think is the appropriate definition of college education?

Dr. Rosental: Well, I don’t think I can do that. I don’t think there should be a one size fits all. I think there should be some school that career-oriented. I think there should be some school offers a little bit of that but more about finding your own ways. There are schools that don’t have general education programs. There are schools that don’t have rigid curriculum that students can work with the faculty to find their paths for themselves. And there’s all kind of stuff in between, all kind of different models. So I think it’s good that there are diversity of models. It’s actually bad when we try to get everybody on the same page because that is what induces conformity. Currently, we’re trying to get everybody in the same page about college being productive. Like here, at Mercer, sometimes people say “Oh, that professor is boring” and “this professor is fun. We have conversations”. I think it would be wrong to try to get one to be the other because it’s good to get boring lectures. It’s part of existence, dealing with boring people. You don’t get to encounter fun people your whole life. You need to experience different teaching styles, different personalities different approaches. The more perspectives you get, the better you have an opportunity to choose what you think is important. The less experiences, the less options you’re going to know what’s available to you. So I don’t think college education should be a certain way. I think it should be all kind of ways.

Me: Thank you for the conversation. It’s my pleasure to listen to you talking about all those things. And I think that would conclude this interview. 

*Shake hands*

[Day 9] Talk with professor – Dr. Rosental (part 1) – The differences in philosophers through time and impact of philosophers to the world (10 min read)

*Dr. Rosental is my lecturer in PHI 190: Introduction to Philosophy. Apart of being Associate Professor and Chair of Philosophy Department at Mercer University, he’s also the author of the book Lesson from Aquinas – A resolution of the problem of faith and reason.

Below is my 30-minutes interview with him. Because the interview is too long, I decide to break it into 2 parts. In part 1, we will get to know him, then we will discuss more about the differences between philosophers through time, and contribution of philosophers to world. Part 2 will contain more of his views about philosophers, his advice of book for the youth, and a discussion about current education system, including obligatory schooling, liberal arts, and college education. *

51fenyso1al

Me: To start the interview, could you tell me a little bit about yourself?

Dr. Rosental: Well, I’m Dr. Rosental. I’m an associate professor and Chair of Philosophy Department. I’m also Director of the Ethics Leadership and Services Minor.

Me: How does it feel to be a professor in philosophy?

Dr. Rosental: I feel pretty good. Philosophy is one of the area that is really limited in job opportunities outside of being professor. I mean, philosophy is always good preparation for anything, but if you want to be a philosopher, there is almost no job except from professor. I felt in love with philosophy at some point in my education, pretty late. And, that’s what I wanted to do. Being a professor means that I get to be paid to do what I love to do, which is pretty great. Not too many people get to do that.

Me: Do you consider yourself a philosopher?

Dr. Rosental: I do. I guess there would be a division. I would draw a division between practical, real world, applied philosophy, philosophy that affect your day-to-day choices, the way you think, the way you act, and what you might call academic philosophy, philosophy of various of studies, research and all that. I prefer that division break down, that academic and practical. So I live the philosophy that I teach, and I try to teach philosophy in the way that are more living and practical.

Me: Do you think there are differences between philosophers in the past and current philosophers?

Dr. Rosental: I would say up to around 1900s, maybe a little bit earlier than that, not only for philosophy but also for all pursuits of knowledge like science, psychology, sociology. I think a lot of people that did that kind of work did it as part of a bigger picture, as pursuing knowledge, not just seeing themselves as philosopher or psychologist. They saw their roles as being individuals who try to figure out as much as they can do, and philosophy played a role in that. Today, we have divided those things. There are philosophers, scientists, psychologist and stuff like that. I think that is pretty common now, getting into division and discipline. In that aspect, I think philosophy is really different than it’s used to be like.

Me: I still cannot draw a line between the philosophers in the past and the current philosophers. Can you explore more on what it’s like in the past?

Dr. Rosental: For example, Newton, who lays the ground work for modern physics considers himself to be a natural philosopher.He’s the philosopher that focus on how the world works. He thought what he was doing was philosophy. Taken another example, William James, who wrote book on psychology and on religious experience considers himself to be a philosopher, even he wrote book we might traditionally consider to be psychology and sociology. There are a lot of figures like that. Today, you would not find that. It is common for a philosopher to work within philosophy department focus on issues that are limited into philosophy. They might talk about science or religion but they wouldn’t do science. That would not be very common. It would be unlikely for them to do so.

Me: So you said that before 1900, all scientists called themselves philosophers?

Dr. Rosental: Yes, and sometimes in 1800s, there were science. “Science” and “scientist” began to be used.

Me: Thank you. Let’s move to other topic. What is your Ph.D thesis and do you still keep your opinion that you stood on when you submitted the thesis?

Dr. Rosental: My thesis was on Thomas Aquinas, who is a very influential 13th century theologian. His emphasis was combining theology and Aristotle’s philosophy. For probably five or six hundred years, his approach was pretty dominant, at least in education that dealt with theology and philosophy. What I was interested in is how he combines faith and reason. As a Christian, he wants to synthesize theology and philosophy. He need to get faith and logic to work together. My thesis was on exactly how he accomplished that, synthesize and synergizing faith and reasons. My thesis is a historical interpretation. I evaluate some but mostly what I did is showing what he actually meant, explaining his views and support it. On that respect, I think I did a right interpretation, well supported, very defensible and I have sharpen a lot of evidences to make my case. I still feel pretty good about that.

Me: Just a side question, why don’t we have a chance to read Aquinas in our Introduction to Philosophy course?

Dr. Rosental: We could have. We read Anselm. Aquinas has different kind of proofs and we could read those instead. I was very close to including Aquinas but you know, there are a lot of materials in that class and  something need to get cut. Outside of those proofs, his materials are really difficult to read. It takes a little bit of setting up to understand what he is writing. He writes generally in what’s called “the disputed question” format, which was very common in Medieval era, but it’s also very difficult to read. It’s more about teaching style really, so I preserve Aquinas for more advance courses.

Me: There is an argument that modern philosophers are focusing on interpretation and digging the knowledge of philosophy in the past, not finding out new knowledge like they used to do. What do you think about it?

Furthermore into that topic, who are your favorite current philosophers and what are their point of views? The fact is, even I, a student who is interested in philosophy do not know the most prominent figure in philosophy now. If it was 50 years ago, I can list a few names, but not for the recent times.

Dr. Rosental: There’s a lot into that question. First of all, I think that it’s important for philosophy to study the past, because if you don’t know the past, you can’t learn from it. You just repeat the same mistakes or reinvent the wheels. Lots of time, I saw people who don’t do history of philosophy say something like “Look, I found a new thing that I put a lot of time and energy into it” and I’m like “That sounds just like Plato”. If you have read Plato, you wouldn’t have to do all of this and just jump into conclusion. But that’s one thing.

Second is I think there’s a lot of questions and issues that are brought up in philosophy need to be re-asked and re-answered over and over again. In one sense, we think of that society and civilization is progressing but in another sense, what never progress is that every time a child was born, you have to start from scratch. You have to start all over again, and as new child, you have to go through all answering and discovering the same questions and answers. They don’t get to load up all the answers in the kid’s brain. If all this going on and repeated, then you have a person. What somebody has to say 2.000 years ago can still be relevant today because kids grow up, ethical issues happen, and you have human interactions and things like that. So, I think history of philosophy is very important.

The next question is about does philosophy progress? Does it add to new knowledge? I think there’s a false assumption built in the question because generally, what happens is philosophers invent a new way to explore the world. When that new way becomes normal, procedural, its methods work out,its techniques, experimentation all work out, then they call themselves something else.

Me: Can you explore more on that?

Dr. Rosental: Sure. All scientist are philosophers. They start to call themselves scientists once the scientific methods became rigorous, formal, and reach a certain level of maturity. All psychologist are philosophers. All social science people are philosophers. To some extent, depending on how you see it, you can think that all mathematicians are philosophers. When they reach a point when they say “We have our own techniques”, then they call themselves something else. So it’s a little bit misleading to say philosophy don’t create anything, because philosophers are the one that are left after they created something, which we give them a new name like psychology, or sociology whatever.

Now that being said, I think it’s also not true to say that contemporary philosophy do not contribute to how we understand the world, to our storage of knowledge. I’ll mention a couple. One of my interest is the mind, what it is and how it works. A lot of development in understanding the mind came from neuron science, but a lot of those questions were guided and interpreted by philosophers. In some cases, the research project was developed by the philosophers and the scientist are like “Oh, we can test that”. The questions for the project were created by the philosophers. Philosophers are also needed to make senses of the data eventually. I think one person for example, who has been very prominent in his area is Daniel Dennet. He has done a lot to contribute to the advance, or understanding of the mind in the last 50 years. He’s still alive.

In other fields, there are a lot of philosophers who have made a significant contribution in practical matters like ethics, politics, justice. One very good example is a bioethics philosopher named Peter Singer. What he does is taking utilitarianism to its logical extreme and thinks it through completely. He started arguing about 40 years ago that according to the principle of utilitarianism, animals can feel pains and pleasures so they need to be counted. Their happiness need to be counted. He has parleyed back into Animal Rights Movement. He’s one of the person who was involved to what today Animal Rights is in, in trying not to eat them so much, not experimenting on them mercilessly for make up or something like that,in making sure that they have better living condition. We’re not doing a very good job about it but as a philosopher, he created this ethical and political movement. There’s a lot of philosophers that are active in the world today. Productive.

*End of part 1.  To be continued.*

More on philosophy:

[Day 1] AI and philosophy (3 min read)

[Day 2] Understand Socrates – Why philosophers should be prepared and willing to die? (10 min read)

[Day 3] Understand Socrates(part 2) – Why Socrates choose death in his trial? (6 min read)

[Day 8] Introducing Powtoon – an online tool for creating animated movies

Today, instead of writing, I will introduce you to Powtoon, a quite powerful and easy to use online tool that will help you create strong presentations.

I just discovered the tool today, and have played around with it. This video below takes me 1.5 hour from zero starting point. ZERO!!

Having use quite a few tools for presentation, including Canvas, Prezi and the famous Powerpoint, I find this tool a really useful one. For some reasons,the editing speed is amazing. First time loading takes few minutes, but after that, everything is lightning. You don’t even realize that you’re editing a movie online. It is totally crazy how fast and easy it can be. It is even more instinctive than Powerpoint. The creators of this tool are really thoughtful about creating a user-friendly interface and for sure do a lot of data optimization. Also, there are good amount of platforms,images and animated figures to choose. Thus, you have a lot of options to presents your ideas, in your own way. Even a no-experience video maker like me can get used to it after couple of minutes, so I think you will definitely enjoy this. Think about how cool it is coming to a business meeting with a video proposal, or rock your class presentation proving your point with video. No more boring, idle presentation, now you can make your ideas talk and run around.

P/s: Powtoon only gives you access to its Premium Features 48 hours after you register. So if you do not want to pay for the tool, you might have to think about when to register.

For some reason, 2 of my mates hate it. They said that they have used a much more better tool than this, but somehow they cannot remember its name. I’ll ask them again for it and may update you later.

Have a good Tuesday and hope this helps.

[Day 7] Cake and Ice-cream – The ultimate question (5 min read)

i_loved_chocolate_cake_and_icecream_by_zooz898-d5uzfki

Cake or ice-cream, which one is the better choice for dessert?

This is a very tough decision to make. In my opinion, I don’t like neither of those two, at least my rational mind told me that. They are just too sugary, too unhealthy, too… bad. But it is my rational mind’s decision, not me. I think when people think about desert, they tend to let their ration mind relax a little bit. Dessert is not comparison about pros and cons. Dessert is about pleasure, about gift, about relaxation time that one gives to oneself after a long day. Me personally, I choose ice-cream, since it is convenient to have and it also provide me a lot of good memories. However, objectively speaking, I must bow my head to cake.

Ice-cream a big part of my childhood. With every kids in my generations at that time (Vietnam, the 90s), having an ice-cream was something that was extremely desirable. We didn’t have any money. We were kids, and our parents were not rich.  I think as humans; we tend to want thing that we cannot get it easily. Ice-cream was usually sold by an ice-cream guy, who rode a bike with a big box on the back seat that contained our dream. We could notice his presence by the sound caused by the bell attached in his bike. He always rang it when he came, just to let us know that he was coming. To us, that is the signal that heaven is coming. For those who have money of course. A decent breakfast at that time costed around 2.000 Vietnamese dong. A normal ice-cream costed half of that, but if you want a bread with ice-cream inside, you have to pay 2.000. I remember that I have to secretly skipped breakfast a lot in order to save money for ice-cream. It totally worth it. When you were sweating because you had been running around with your friends for hours and the weather was burning because it’s summer in a tropical region country, having an ice-cream was just the most divine thing that you can ever feel in your life. It was even better if you could share it with your friends, who are suffering the same fate with you. When I grow older, I stopped having ice-cream from the ice-cream guys. Instead, since I got my own bike and money, I started collecting ice-cream sticks to get the prizes that I saw on TV. I remember that after every swimming or basketball training at the city’s center, I always get by a store on the way home to get myself an ice-cream as a little treat for my hard-working practices. Cake, to me, is strange. It’s not common, and expensive. Back then, I can only have it once a year, when my birthday comes. It can never give me such memories like ice-cream did.

84391453774376_17_170412doolthangkgs025

We kids around ice-cream guys back in the days. 

tr9a

We only need this to be happy!!!

dsc_0245_4288x2848

Probably my face having a good ice-cream haha :)) 

Regards on convenience to have, ice-cream is way ahead of cake. You can get an ice-cream at almost any store, and the enjoyment you have from having them is guaranteed, since ice-cream quality doesn’t vary based on where you get them. Cake’s quality varies a lot. Since it was craftily made, you cannot be sure whether your next cake is good or not, even you buy them at the same place. Ice-cream is also easy to store at your house for a long time. If you have enough space in your fridge, you can have an ice-cream supplies for 6 months without worrying it will decrease in value. Cake is the completely opposite. The longer you keep a cake, the worse it tastes. If a cake is in your fridge for more than one month, it is likely that you don’t want to have it. Thus, you have to re-stock your cake supplies more frequently, if you do not want to bake one yourself. It’s just too much hassle having cake for dessert.

Although I favor ice-cream due to its convenience and attachments with my past, I do think that cake offer more variability and having good cake gives you more pleasure than getting an ice-cream. Plus, instead of its sugary, cake is more “true food” due to the flour, eggs and another ingredient to make. On the contrary, I think ice-cream is just frozen sugar water with extra fat. Cake is also best in creating a warm mood between several people in the meals. Having a pie from a cake warm up the conversation and lighten the mood. Now they have the new topic that they can talk about. Ice-cream couldn’t make that feeling. Being cold can be an advantage for ice-cream at Viet Nam, but it can be a real disadvantage for people who have low tolerance to food’s temperature, such as elders. So, I think, speaking of superiority on benefits, cake has the higher ground.

facts-about-wedding-cakes-ftr

I don’t think they make wedding ice-cream. 

banh-khuc-cay-sn-chong-1

Cake is prettier, and easier for sharing.

Everything is subjective. And without a certain circumstance, it’s hard to tell which is better than which. I like ice-cream because I can easily get it and I feel more familiar with it. I like cake before it gives more pleasant feeling and provide a warm mood for conversation within a meal. At the end of the day, it doesn’t matter that whether it is cake or ice-cream. If you feel good about it, even you have water, I would consider that is a good dessert.